Khi những cơn gió mang hơi hớm se lạnh vào buổi sớm mai và khi cây lá trên các triền núi xa xa bắt đầu đổi thay màu sắc... Utah đã bước vào thu... và trong cái khoảng không gian tĩnh lặng ấy, tự dưng tôi chợt nhớ tới hắn và cảm thấy như có “nợ” với hắn một cái gì! Chắc chắn, không phải cái chuyện nợ nần theo kiểu hồi còn trai trẻ, còn sung sức, “Anh còn nợ em, Công viên ghế đá, Lá đổ chiều êm” để rồi cuỗm mất “đào”của hắn,  khiến hắn ta  phải ôm mối hận đó cho tới bây giờ. Cũng không phải cái chuyện nợ tiền, nợ bạc gì, để hắn ta phải nhắc khéo, “Ông còn nợ tui, năm trăm lúc trước, nhớ trả nghe ông!” Vậy mới thật quái lạ!  Có lẽ đó là món nợ “ân tình” mà hắn ta đã dành cho tập thể Nông Lâm Súc Bình Dương Hải Ngoại qua ba kỳ Đại Hội đầy lưu luyến này chăng?
 
Tôi với hắn, nếu “thiên hạ” có “ví von” gọi nhau là bạn “nối khố” cũng không hẳn đúng lắm. Vì ở cái thuở thiếu thời ấy, chúng tôi tuy học chung lớp, chung trường với nhau, nhưng tôi ít khi la cà, ngao du với hắn. Hắn ta lúc nào cũng tỏ ra nghiêm túc, mẫu mực. Việc gì, một khi đã lên “khuôn”, cho dù “Trời hôm nay, mưa có nhiều hay rất nắng” ý định của hắn cũng không lay chuyển, cố phải làm cho xong. Rồi sau đó, có phải “mến lá sân trường” hay phải “pha lại mực cho vừa màu áo nâu” cũng được! Còn tôi, làm việc tùy lúc, tùy hứng vui hay buồn và ưa “bỏ mứa” nửa chừng. Vì vậy, kết quả thôi khỏi nói, rất ư là “tuếch toác,” đụng đâu hư đó! Vì thế, lại khỏe cái thân này! Chẳng có ai can đảm nhờ vả hay sai bảo việc gì, nếu không muốn mang thất vọng!
 
Ký ức về hắn rõ nhất vào những lúc xuân về, khi trường có tổ chức văn nghệ, văn gừng. Hắn ta tích cực đóng góp, sáng, trưa, chiều, tối, mê mệt đến quên ăn, quên ngủ. Cứ nhìn hình ảnh một anh học trò nhỏ nhắn “Công Thôn Áo Nâu,” mặt mày lem luốc, lui cui phía sau hội trường, đóng đóng, đục đục, o bế từng chữ một cho phần trang trí như “Cung Chúc Tân Xuân” hay “Hân Hoan Chào Mừng Quan Khách,” hắn cắt, xẻ ra từ những miếng “foam” lượm được ở đâu đó. Thấy thật thương cho thân bạn tôi quá, “Công Thôn mà!” Hắn ta luôn luôn tự hào, an ủi mình như vậy! Trước những giờ học môn Thực hành Nông Trại, hắn bao giờ cũng khéo léo, xoay sở thế nào, để sáng chế ra những nông cụ kiểu mẫu thô sơ, giúp cho Thầy hướng dẫn dùng vào công việc giảng dạy rất ư tiện lợi. Vì phân xưởng nông cụ của trường rất thiếu thốn nhiều thứ máy móc, dụng cụ, nên Nông Lâm Súc Bình Dương có một đặc điểm riêng, không một trường NLS nào khác có được, đó là môn “Thực Hành Nông Trại Tại Gia” thay thế cho. Đã thế, hắn ta còn sốt sắng, lục lọi cũng không biết từ đâu, lôi về một số kìm, búa, dao, kéo cho anh em mượn chung xài, thật hiếm có người bạn tốt lành, sốt sắng như vậy.
 
Nếu chỉ nói về ngày tháng cũ, chắc chẳng có gì đáng để phàn nàn về hắn cả! Vì hắn có bao giờ “nhập băng” theo các đàn anh như Phú Chùa, Lưu Xẻn, hay chải chuốt “láng o” bám theo gót chân anh cả Hai Râu học nghề “cua kéo” mấy em gái bé nhỏ, thơ ngây, để rồi có những tập thư tình “đẫm lệ” để lại cho đời. Bạn tôi thật hiền lành, chăm chỉ, ưa thích chăm lo việc giao tế, xã hội, cứu trợ, cộng đồng. Khi tình hình chiến sự ngày một leo thang, các khóa đàn anh phải giã từ bút nghiên, lên đường lo việc nước, làm bổn phận người trai thời loạn. Khóa đàn em tụi tôi may mắn hơn, nhờ trường NLSBD lúc đó, được chọn để mở ra các khóa Chuyên Viên Cao Đẳng Nông Lâm Súc như Nông Cơ hay Ngư Nghiệp, theo chương trình hệ hai năm, hậu trung học. Chúng tôi lại tiếp tục dung dăng, dung dẻ nơi hậu phương an bình để dùi mài kinh sử. Tập thể học viên chúng tôi không còn giới hạn trong vùng Bình Dương và các vùng phụ cận như trước nữa, chúng tôi có những bạn mới đến từ các trường trung học Nông Lâm Súc Huế, Bảo Lộc, Cần Thơ v.v... về học chung sau một kỳ thi tuyển chọn.
 
Khi đó, thực sự mới thấy hắn trưởng thành, như một anh “gà trống choai” đang hồi trổ mã. Hắn được bầu chọn làm Chủ Tịch Hội Sinh Viên Cao Đẳng Nông Lâm Súc Bình Dương, đại diện anh chị em học viên Nông Lâm Súc giao tiếp với các trường bạn. Phải nói thêm, vào cái thời dầu sôi lửa bỏng ấy, rất hiếm có những người sáng suốt, thực tâm với quê hương, đất nước như hắn. Hiệp định Ba Lê đã ký kết, nhưng ít ai ở Miền Nam Việt Nam hiểu thấu đáo nền hòa bình chấm dứt chiến tranh ấy, nó sẽ được thực thi như thế nào? Có tiếp tục bảo đảm những giá trị nhân bản, dân chủ tự do cốt lõi mà chúng ta đang thừa hưởng hay không? Hắn ta cùng với Phạm Ngọc Các (CT 70 73/NLS Bảo Lộc), lúc đó đang làm Phụ Tá Chủ Tịch Hội Sinh Viên của trường, cả hai thường hay sát cánh với nhau trong mọi sinh hoạt, giao tế rất chí thân. Có lúc tôi thấy hắn ta thật trầm ngâm, lặng lẽ, cứ tưởng hắn đang bị thất tình, người yêu sắp “lên xe hoa!” Nhưng không phải vậy, hắn ta thất vọng vì đại diện sinh viên ở các trường khác đang tranh đấu cho những lý tưởng thật viễn vông, mơ hồ... không thực tế mà hắn không thể nào “giác” cho họ “ngộ” ra được!
 
Sinh ra và lớn lên ở vùng xôi đậu nông thôn Miền Nam, hắn hiểu rất rõ tâm tình, ước vọng của người nông dân VN, cùng với những khó khăn, thiếu thốn đang đối mặt của họ. Hắn ta nguyện sau này sẽ đem công sức, tài trí của mình ra giúp đỡ và cải thiện đời sống của các nông gia đó một cách thực tiễn, thích hợp với môi trường họ đang sinh sống, để họ có một đời sống ấm no, thoải mái sung túc hơn. Và chỉ có thế thôi, không một tham vọng nào khác. Chính vậy, hắn rất quyết tâm với ý nguyện của mình, nên sau những giờ học tập ở trường, chưa đủ, hắn hay chịu khó học hỏi thêm từ những lò gạch, lò gốm ở ngoài trường, ngay cả các kỹ thuật làm tranh sơn mài, đồ gỗ mộc, hàn xì, hàn gió đá. Hắn ta học và làm tuốt luốc hết, hắn quan niệm: Trước mua kinh nghiệm bản thân, sau có tí tiền còm tiêu xài lai rai, rả rích.
 
Nếu ví thử “đường đời bình lặng cả, anh hùng hồ dễ có mấy ai?” Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đã làm hắn ta chao dao, hụt hẫng... Lúc đó, tại quê nhà hắn ở vùng Vàm Cỏ Đông, Đức Hòa, Đức Huệ, trong khi những người chiến thắng reo hò ầm ỹ. Hắn ta buồn rầu vô hạn... Hắn linh cảm có một cái gì đó không ổn cho tương lai! Những nghịch lý xảy ra hằng ngày trước mắt hắn, làm hắn thất vọng, chán chường, chẳng muốn làm lụng gì cả. Nghĩ cho cùng, hắn ta không dính dáng gì với chế độ cũ, chẳng có nợ máu, nợ mủ gì với ai! Nếu hắn, cũng như bao nhiêu người dân Miền Nam khác, cứ chấp nhận cam chịu, rồi cũng sẽ có một công việc nào đó để mưu sinh cho qua ngày tháng, chỉ thế thôi!
 
Nhưng với bao nỗi niềm trắc ẩn, suy tư trằn trọc, về tương lai bản thân, gia đình, quê hương, đất nước. Kết hôn với người bạn gái cùng trường học sau hai lớp và được một cháu trai đầu lòng, kháu khỉnh. Hắn rất đau lòng từ giã vợ con, quyết định bỏ nước ra đi bất chấp sự hiểm nguy đang chờ đón hắn, mong sao thoát ra khỏi cảnh tù túng ngay nơi chôn nhao cắt rún. Sau bao nhiêu lần vượt biên thất bại, cuối cùng hắn ta cũng đến được bến bờ tự do. Chốn đến, hắn đã phải làm lại từ đầu, nhưng lần này hắn rất tự tin, phấn khởi cho một ngày mai tươi sáng ngõ hầu có thể làm một cái gì đó, tốt lành, giúp ích cho gia đình, cho xã hội và cũng phải thôi. Mỗi khi nghĩ đến đứa con thơ và người vợ hiền còn ở lại quê nhà, hắn không cho phép mình rầu rĩ chán chường được nữa!
 
Đúng là “Trời chẳng phụ lòng người!” ngay thẳng như hắn, sau bao nhiêu năm cố gắng, làm lụng vất vả, hắn ta đã đạt được cái ước mơ của bao người dân Mỹ Quốc sinh sống nơi đây (The American dream is achieved through sacrifice, risk taking and hard work, not by chance...) đã hội nhập vào quê hương thứ hai này một cách nhanh chóng. Nhưng cái sung sướng nhất, vẫn là cái ngày hắn ta đã bảo lãnh được vợ con sang đây đoàn tụ, sau bao tháng ngày nhớ mong, ngăn cách. Quả thật, vai trò của người vợ trong sự nghiệp của người chồng rất ư là quan trọng. Thật đúng với châm ngôn “Đằng sau sự thành công của người đàn ông, có bóng dáng của người phụ nữ." Từ ngày có vợ hắn sang, hắn ta “phất” lên như ”diều gặp gió́” và sinh thêm hai cháu xinh xắn, một anh con trai và một cô gái út. Cả ba cháu đều do bàn tay chăm sóc của người mẹ hiền, vì thế các cháu rất ngoan ngoãn. Cả ba, đã tốt nghiệp đại học và có công ăn, việc làm đúng với sở học của các cháu. Ngoài xã hội hắn ta được “thăng quan, tiến chức” lên đến hàng “xếp sòng” đi sớm về khuya... Vậy chắc chắn phải có cái “tài” khéo léo của bà xã hắn đã “trợ lực” cho sự thành công của hắn.
 
Kỳ Đại Hội 3 vừa qua, thành công rực rỡ do chính sự tham gia tích cực của tất cả mọi người tham dự gần xa, đóng góp sức lực, công của. Thầy Cô, Anh Chị Em trong gia đình NLSBD lại có dịp gặp gỡ, chia vui với nhau trong “Tình Đồng Môn, Nghĩa Thầy Trò” thật chân tình, thật thắm thiết. Tôi biết, hắn ta rất vui, trong sự đầm ấm, lặng lẽ âm thầm... Tôi biết cái tình cảm hắn đã dành cho “Gia Đình Áo Nâu NLSBD” chúng ta, thật bao la, thật to tát.
 
Chả thế sao? Khi vài tháng trước ngày Đại Hội, hắn ta đã phác họa mẫu mã cổng chào, sắp đặt vị trí các lều quán, các cột mốc, văn phòng, các địa danh, gợi nhớ một thời chúng ta đã chia sẻ, gắn bó với nhau dưới mái trường xưa. Hắn đã đặt trọn tâm tư, tình cảm vào từng chi tiết nhỏ nhặt nhưng đầy ý nghĩa... Điển hình như tấm "băng rôn" làm hàng rào bao quanh khu vực tổ chức Đạ Hội. Hắn đã thuê người in, chụp, đưa lên những hình ảnh đẹp đẽ của quê hương, đất nước, chạy dài từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau. Mỗi vùng, mỗi miền, mỗi danh lam thắng cảnh, tất cả các sắc thái văn hóa riêng biệt ấy đã được hắn đưa lên cho chúng ta chiêm ngưỡng. Chiếc cổng nhỏ “Chào Mừng” làm bằng những thanh tre ghép lại với nhau, gợi cho chúng ta nhớ tới vật liệu của quê nghèo, mộc mạc, cái gì cũng làm bằng tre hết. Trước khi thực hiện chương trình này cho Đại Hội, hắn ta đã điện thoại, gởi email qua lại bàn bạc với từng anh chị em trong Ban Chấp Hành một cách thật dân chủ đúng nghĩa.
 
Cá nhân tôi nói riêng và gia đình NLS BD nói chung, cảm thấy thật may mắn có đươc HẮN như có một viên ngọc quý! Dĩ nhiên, trong Hội chúng ta còn rất nhiều người có tấm lòng tha thiết với Hội như “HẮN” đang chờ các bạn khác viết về họ. Xin mượn bài thơ “SỐNG”của Nhà Sư Thích Hạnh Hải sau đây mà tôi rất thích, từ khi biết đến hắn qua hai kỳ Đại Hội, cứ mỗi lần đọc lên, hình ảnh HẮN lại hiện lên bàng bạc trong đó! Sống động. Mãnh liệt... Xin chép ra đây để tặng HẮN; Người Bạn tôi, nói lên sự cảm phục của tôi về tấm lòng thiết tha chí tình của HẮN đã dành cho cuộc đời, cho tập thể NLSBD chúng ta.
 
 
SỐNG
 
Sống không giận, không hờn, không oán trách
Sống mỉm cười với thử thách, chông gai
Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai
Sống an hòa với những người chung sống.
 
Sống là động, nhưng lòng không biến động
Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương
Sống hiên ngang danh lợi xem thường
Tâm bất biến, giữa giòng đời vạn biến. 
 
Trần Đình Thảo
CT/K3
Utah, Thu 2015