Nhân dịp về thăm quê nhà, tôi biết Thầy cô Công cũng đang về thăm mẹ già. Khi gặp Ngọc Anh, cô bạn học cùng lớp ngày xưa và Hồng Ngô cũng từ Mỹ về thăm gia đình, tôi đề nghị hai bạn cùng đi Sa Đéc thăm gia đình Thầy. Hai bạn tán thành ngay vì không dễ gi có cơ hội như vầy.

Thế là tôi điện thoại báo, Thầy vui lắm, chỉ đường đi cặn kẻ, dặn ráng sắp xếp ở chơi một tuần. Thầy lên lịch, sẵn đó sẽ đưa đi Vĩnh Long, Giồng Trôm, Cần Thơ… cho biết Miền Tây. Nhưng thời gian hạn hẹp nên chúng tôi đành đau khổ chối từ lời mời hấp dẫn của Thầy Cô.

Hai hôm sau, cả ba đứa mướn chiếc xe cà tàng, cà tịch khởi hành.

Hơn ba mươi năm tôi mới có dịp về miền tây, kể từ khi rời bến sông ngã Vàm Cống xuống ghe, đi tìm tự do. Dọc hai bên đường, bây giờ tôi mới thấy những cảnh đồng xanh của lúa, của vườn thanh long, của vườn chuối… mà tôi không còn thấy ở Bình Dương quê tôi. Những khu công nghiệp và nhà trọ đã thay dần những thửa ruộng lúa, nương khoai, nương sắn của ngày xưa. Đành rằng giúp người dân có công ăn việc làm nhưng cái gì cũng có cái giá của nó. Mất màu xanh, ô nhiễm và bất an vì người tứ xứ đến mang theo những tệ nạn. 

Xe chạy theo chỉ dẫn của Thầy qua e mail. Ngày trước nghe đâu chờ phà hơi lâu, bây giờ nhờ có cầu Mỹ Thuận nên chỉ  tuỳ theo tài xế mất chỉ ba bốn giờ. Chú tài xế  hơi lớn tuổi nên chạy từ từ,  chúng tôi cũng bận tâm sự nên không thấy đường dài. Lâu lâu Thầy gọi điện hỏi thăm tới đâu, rồi căn dặn chúng tôi để bụng đến dùng bữa với gia đình. Chắc chắn là vậy rồi, miền tây có nhiều cá  mắm lắm mà!

Một giờ trưa chúng tôi mới đến. Cả nhà Thầy ra cổng đón chúng tôi. Các em Thầy rất  là hiếu khách. 

Nhà Thầy trông mát mẻ, xung quanh cây xanh bóng mát, yên tịnh. Vào nhà chúng tôi chào mẹ Thầy. Bà trông yếu nhưng vẫn sáng suốt hỏi han cả ba đứa. Nhìn bà  tôi chợt nhớ vài câu thơ:

Mẹ già như chuối ba hương, 
Như xôi nếp ngọt như đường mía lau...
 

Hồi còn học ở trường Nông Lâm Súc Bình Dương, chúng tôi không có diễm phúc được học với Thầy. Cả Ngọc Anh, Hồng Ngô cũng chỉ biết đến thầy qua những bài viết trên trang nhà và  rất ngưỡng mộ "nhà giáo già." Riêng tôi từ những ngày đầu đến Úc định cư, đã được tiếp xúc với Thầy Cô Công và quí thầy cô: Thầy Mới, Cô Nữ, Thầy Tài, sau nầy thêm Cô Tuấn Ngọc.

Qua những năm tháng tiếp xúc, tôi rất kính mến Thầy vì tính tình dễ gần gũi và trên hết rất tốt, rất hiền, luôn sốt sắng với mọi người. 

Tôi có đọc đâu đó một bài Phật dạy, dù cho ta không dồi dào về tiền bạc nhưng vẫn có bảy cách để giúp người: Nhan thí, ngôn thí, tâm thí, nhãn thí, thân thí, tọa thí, phòng thí. Tôi thấy Thầy đã làm được những điều này. 

Lúc mới đến định cư, ai cũng khởi đầu từ con số không. Người đến trước giúp người đến sau. Thầy đã giúp công, không quản ngại khó khăn, trong khả năng cho phép. Mỗi khi bên quê nhà bạn bè cần giúp đỡ thầy thường tự mình đóng góp rồi kêu gọi Gia Đình Nông Nghiệp Úc Châu cùng đóng góp ít nhiều "lá lành đùm lá rách” mà chúng tôi sửa lại là “lá rách đùm lá te tua”. Vì lúc ấy chúng tôi cũng đang đối mặt với giai đoạn vạn sự khởi đầu nan. 

Ngoài ra Thầy cũng giúp cho các bạn mới đến Úc, hay nhờ các con trong lúc mở lớp dạy kèm, sẵn đó kèm thêm cho các con của bạn bè … Còn rất nhiều việc thầy đã làm… Qua đó đa số những ai có dịp tiếp xúc đều quý  trọng Thầy.

Bên cạnh Tthầy, Cô là một người vợ hiền đảm đang, khéo léo, lúc nào cũng vui vẻ, lạc quan, tự tin thương yêu và lo lắng cho gia đình hai bên. Thầy Cô là tấm gương tốt cho các con noi theo. Vì thế  các con rất yêu quý và hiếu thảo với Thầy cô. 

Giờ đây Thầy Cô và các con cháu đã an cư  lạc nghiệp trên xứ người. Như bất cứ những người con hiếu thảo nào, các con của Thầy Cô muốn cha mẹ sống đời với con cháu và tìm mọi cách bù đắp lại những ngày tháng vất vả lo toan cho các con trong thuở hàn vi, trong lúc chân ướt chân ráo đến xứ người..

Gánh nặng cuộc đời ai bằng mẹ,
Lam lũ, khổ sở ai bằng  cha,
Cần lắm, cha mẹ sống mãi mãi, 
 Để con được phụng dưỡng đáp đền. 

 

Thầy lúc nào cũng nhớ thương hay nhắc đến cha mẹ mà Thầy gọi là tía má.  Đến thăm quê Thầy lần này tôi mới chứng kiến được tấm lòng hiếu thảo của Thầy.

Các cô em Thầy nói, "Anh Hai về má vui lắm nên quên  bịnh.” 

Mỗi lần nghe Bà trở bệnh nặng, từ xa Thầy Cô tất tả về thăm. Tình thương con, tình yêu quý mẹ được thể hiện, thấy mặt con bệnh bà thuyên giảm thấy rõ.

Khi tận mặt chúng tôi, Thầy hỏi thăm từng người, thân mật hỏi han Ngọc Anh và Hồng Ngô. 

Ngọc Anh nói: "Đúng là tác phong của nhà giáo vẫn còn đậm nét trong Thầy!"

Nói nhỏ với các bạn, Ngọc Anh cũng phấn trắng bảng đen, gõ đầu trẻ ba bốn chục năm chứ đâu có ít gì. Vậy thì "giáo học trò" nhận xét Thầy mình chắc không thể nào sai.  

Sau khi tay bắt mặt mừng Thầy cô mời chúng tôi dùng bữa trưa với cháo, gỏi gà ác rồi cá kho, cá hấp... chắc quá bữa nên chúng tôi ăn ngon lành đĩa gỏi bắp chuối chua chua, ngọt ngọt kèm cháo ngon không thể tả. Rồi nước mía ngọt lịm, ổi to dòn với muối ớt không thể chối từ. Vừa ăn vừa chuyện trò rất xôm tụ.

Thầy còn mời chúng tôi món phở bò cho buổi chiều, nhưng chúng tôi xin phép vì bạn Hồng đã  hẹn với con trai và con dâu đang sống ở Cần Thơ. Tiện đường chúng tôi ghé thăm cháu.

Khi từ giả bà, bà bảo, "sao mà về sớm vậy, không ở chơi ngủ lại một đêm.” 

Ra xe Thầy cô còn gửi theo một túi ổi xá lị to tướng rất hấp dẫn.

Chúng tôi cùng chụp vài tấm hình kỷ niệm với Thầy cô. Bịn rịn chia tay ra về. Có cuộc vui nào mà lại không tàn!

Chỉ bốn mươi phút sau chúng tôi đã  đến Cần Thơ, Tây Đô là đây. 

Trời sắp tối, phố xá đã  sáng trưng với đèn hoa vẫn còn giăng mắc đủ màu, trang trí cho những ngày tết vừa qua, làm tôi thấy không khí xuân còn vương vương đâu đó. 

Buổi tối con trai lớn đứa của Hồng đưa chúng tôi đi ăn tối trên du thuyền ở bến Ninh Kiều. Giữa màn đêm, các du thuyền êm đềm trôi, đèn màu lấp lánh, thực khách vừa ăn vừa thưởng thức những bài nhạc cũ, làm tôi nhớ đến cầu Cảng Sydney Harbor của xứ Kangaroo của tôi cũng có tàu, cũng lượn vòng quanh nhà hát con sò "Opera House." Ban đêm sáng rực một vùng trời. 

Tôi tự hỏi  có nhiều triệu người dân Việt Nam chưa có diễm phúc được đến nơi đây để thưởng thức một buổi chiều trong khung cảnh trời đẹp của miền đất nầy!

Sáng hôm sau, chúng tôi đi ăn sáng và đi một vòng quanh chợ mua một vài đặc sản của miền tây. Tôi thích bánh tét lá cẩm có trứng muối ăn cũng là lạ, beo béo, kẹo chuối, có gừng cay, chút dừa khô cắt miếng, đủ để hoà quyện cùng chuối ngào điểm thêm chút đậu phộng giả nhỏ,... rồi còn nữa  bánh bò làm bằng đường thốt nốt ngọt ngào thanh thao.... Thôi chắc đã đủ, nhắc những món ngon quê nhà làm các bạn thêm thèm nhất là những người xa xứ lâu năm. 

Cái duyên được gặp gỡ lại nhau, được gần bên nhau làm tôi xúc động, vì mấy mươi năm trước khi đặt chân lên ghe rời xứ, cũng có nghĩa là ra đi mãi mãi. Đâu ngờ còn may mắn được trở về, tìm gặp được bạn bè, thế cũng mãn nguyện lắm rồi! Thêm nữa, vào dịp nầy đẩy đưa tôi cùng các bạn đến thăm mẹ Thầy Công và gia đình. Nhật ký tôi lại ghi thêm một chuyến đi với nhiều kỷ niệm, nhiều cảm xúc vui buồn lẫn lộn. 

Lúc từ giả Thầy Cô Công và gia đình, với cả lòng thành tôi chúc Bà luôn khỏe, vượt con số “bách niên giai lão” vui sống cùng con cháu. Bà nói: “Hổng biết có ráng nổi không!” 

Huỳnh Phan