Anh bạn học chung lớp 12 khóa 1 của chúng tôi có tuổi đời không hơn chúng tôi quá mười hai tháng, nhưng anh sở hữu cốt cách điềm đạm chững chạc, đạo mạo và lối ăn nói mực thước khó ai bì được. Anh ta lại giỏi môn Toán lớp cô Yến và hiểu thấu đáo các bài giảng Lý Hóa của thầy Sương, nên các bạn thường xuyên nhờ cậy giảng lại bài học và chỉ dẫn làm bài tập Toán Lý giúp họ. Anh ta tỏ ra xuất sắc trong vai trò của người dạy kèm, giảng giải rành mạch từ đạo hàm f(x) hai ẩn số, hình học không gian quỹ tích, cho đến chuyển động tắt dần, nhanh dần... Anh luôn hoàn thành tuyệt vời các yêu cầu đặt ra và hết lòng giúp các bạn mà không hề kể công, đòi công gì cả, và kết quả tương xứng được chúng bạn ưu ái xưng hô, gọi bằng thầy. 
 
Nhân vật được nhắc trong sự quý mến trên là anh Nguyễn Văn Bình, trùng tên với vị Tổng Giám Mục Công Giáo Việt Nam vào thời ấy. Tôi xin kể câu chuyện thú vị mà “Giáo sư Nguyễn Văn Bình," trong vai thầy chúng tôi như sau:  
 
Một ngày tháng hai năm 1969, nóng nực, đầu giờ học buổi chiều, biết thầy Trinh vắng không đến dạy môn Nông Học, một số bạn bàn rủ nhau đi lên Bến Thế khảo sát lò lu. Thế là cả lớp nhao nhao lên tiếng rủ anh Bình đóng vai thầy dẫn cả lớp đi xem cho biết. 
 
Thể theo nguyện vọng  tha thiết của bạn bè, anh Bình ra nhà xe lấy xe gắn máy chạy về nhà ở đầu dốc Phú Văn, cởi áo nâu ra và thay vào cái áo trắng mới tinh, không quên bỏ áo vào thùng rồi ngồi chờ ở cổng nhà. Chúng bạn cả đoàn xe máy, xe đạp kéo nhau một hàng dài ngoằn hướng lên Suối Giữa, rồi rẽ qua Bến Thế. Đi đầu là Khoa, Lưu, Dũng, Hải, đoạn cuối là Luyến, Tú, Sáng, Nghĩa, Hát. Thầy Bình cùng Đỗ Chánh, Hồng Phước, Rạng và Thả đi giữa. Đoàn người vừa đi vừa hát “Đường trường xa con chó nó tha con mèo…”  
 
Cả lớp đi đến nơi, dừng lại tại một con rạch nước đang lớn (thủy triều đang lên) có ghe bầu vào tận bến đang chất lu khạp chở về miền Tây, cách mươi mét bên trái là hai ghe chở đất nguyên liệu từ các nơi mang về đây cung cấp.  
 
Chúng tôi tập họp trước cổng lò, chờ thầy Bình và các bạn vào xin phép chủ lò. Một điều tôi vừa ngạc nhiên, vừa lo lắng là không hề thấy anh Huyền có mặt trong số người đến đây. Dù nhà anh cách lò lu này chỉ hơn nửa cây số, có lẽ anh thấy ngại ngùng và không dám tháp tùng một đám học trò đi du sát mà dẫn đầu là một ông thầy giả hiệu. Do vậy nên anh lánh mặt đi, sợ mang tiếng dám giỡn mặt với bà con địa  phương mình. 
 
Thủ tục nhập gia trót lọt, chủ lò và anh đốc công đón tiếp trò chuyện với thầy Bình cùng các học trò một cách trịnh trọng, lịch sự ưu ái và cởi mở, đầy thân thiện đầy tiếng cười vui. Chúng tôi vào theo thầy Bình như nước tràn bờ. Chủ nhà hãnh diện và đầy vẻ khích lệ giới thiệu cơ xưởng cùng sản phẩm của mình một cách khoan khoái. 
 
Chúng tôi quan sát kỹ càng từ khâu nhồi đất cho đến khâu chế biến thô tạo hình các thành phần nắp, vách lu và dừng lại ở khâu hoàn thiện sản phẩm.
 
Người thợ đặt cái đít chân khạp xuống nền, lấy một tấm đất khép tròn theo chu vi đít khạp và vuốt cho liền mối nối lại, cái khạp bấy giờ có hình trụ ống, rồi người thợ lại vuốt cho kín cái phần nắp chân, nắn đất làm quai miệng lu. Bàn tay người nghệ nhân thoăn thoắt uốn lượn tạo hình dạng mềm mại tài tình, tạo độ dày mỏng cạn sâu chính xác, cái nào như cái nấy, xong đem hong nắng cho lu khạp khô rồi tráng nước men, lại chờ khô, rồi cho vào lò nung. Từ lò nung người ta mang sản phẩm ra phân loại định giá bán cho ghe chở về miền Tây để chứa nước mưa, chứa mắm đồng, đựng thóc giống…  
 
Chúng tôi quan sát và học hỏi không biết chán. Ngoài ra còn sờ mó lu khạp ướt và tự tay khuấy phá, nhào nặn đất, vò thành những viên đạn tròn, nắn con voi, con lợn rất thỏa thích. Trong lúc đó thầy Bình ngồi nghiêm trang trò chuyện, bàn bạc thời sự với chủ lò và nhận được sự đón tiếp một cách niềm nở ở bàn tiếp khách từ đầu đến cuối. Thầy Bình thể hiện là một người thầy nhẫn nại, gương mẫu đáng quí.
 
Lúc từ giã ra về, chủ lò còn cảm ơn thầy trò chúng tôi đã quá bước ghé thăm và hẹn ngày gặp lại.
 
Nguyễn Văn Bậu