Thu Tịnh và Trần Thị Hường
Trương Thị Thu Tịnh và Trần Thị Hường
Được trúng tuyển lớp 8, vào cuối Thu năm 1968, tôi khăn gói quả mướp theo Ba tôi lên Trường Trung Học Nông Lâm Súc Bình Dương để học. Trường cách chợ Búng khoảng 1 cây số. Kế bên là Trường Trịnh Hoài Đức, một ngôi trường trung học công lập lớn nhất của tỉnh Bình Dương vào thời ấy.
 
Những ngày đầu làm học trò ở ngôi trường mới, tôi cảm thấy thật xa lạ, thật bỡ ngỡ, nhất là buồn xa nhà. Được xếp vào lớp 8A, tôi làm quen với Trần Thị Hường, cô bạn cùng lớp, thật dễ mến, dễ gần gũi. Cũng chính tình bạn của chúng tôi đã xoa dịu nỗi buồn nhớ nhà và làm tôi cảm thấy thích lưu học tại trường này. Tôi may mắn học cùng lớp với Hường suốt 5 năm, từ lớp 8 đến hết lớp 12 (1968–1973).
 
Với khuôn mặt khả ái, phúc hậu và mái tóc dài óng ả, kèm theo tính chăm học, khiêm nhường, Hường được ngưỡng mộ và là tấm gương tốt—nếu không muốn nói là thần tượng—không những cho riêng tôi mà còn cho những bạn học cùng thời, cùng trường.
 
Tuy ở trọ học khác nơi nhưng có những ngày Hường đến nhà trọ của tôi ngủ lại để cùng học thi. Tôi thấy Hường học suốt cả đêm và có cảm tưởng cả trong giấc ngủ Hường cũng học nữa. Ngủ chung, trong đêm tôi nhiều lần bị thức giấc vì nghe tiếng Hường đọc bài trong đêm. Hường học rất giỏi, lúc nào cũng được sự thương mến của Thầy Cô và lòng ngưỡng mộ của bạn bè.
 
Kết quả sau bao nhiêu năm chăm chỉ đèn sách, Hường được tuyển thẳng vào Đại Học Nông Nghiệp, còn tôi chọn học lớp chuyên viên Cao Ðẳng NLS ban Kinh tế Nông nghiệp (1973-1975).
 
Sau khi rời trường năm 1973, tôi không có dịp gặp lại Hường. Kế đến biến cố 1975, nhiều gia đình ly tán, nhà cửa nát tan, bạn bè mỗi người một nơi. Năm 1976, tôi nhận được lá thư của người bạn học cùng lớp, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, đang dạy ở Cà Mau. Lá thư khá dài, dù sau mấy mươi năm trôi qua nhưng mỗi lần nhớ đến tôi đều rươm rướm nước mắt, trong đó có đoạn Nguyệt viết: "Nơi đây, tận cùng của đất nước, ngày hai buổi đơn độc đứng trên bục giảng, Nguyệt nhớ Trường, nhớ Thầy Cô, nhớ bạn bè, nhớ Tịnh và nhất là nhớ Hường. Không biết bây giờ Hường ra sao hả Tịnh?"
 
Những ngày ấy không biết Hường đang sống ở đâu và có nhớ tới những người bạn cũ hay không? Nhưng tôi có linh cảm và luôn cầu nguyện cho cô bạn Hường của chúng tôi vượt thoát khỏi chốn trần ai, tối tăm này, ra nước ngoài để thực hiện ước mơ và hoài bảo của mình, đó là đem kiến thức học hỏi, trí tuệ và tài năng phục vụ cho gia đình và xã hội.
 
Quả đúng thế! Sang Mỹ định cư năm 1995, dò tìm, tôi được bạn bè cho biết Hường đang sống tại Houston - Texas, nhưng tôi chưa liên lạc được. Nhiều năm cách biệt nhưng tôi vẫn luôn nghĩ đến Hường. Tôi thường lấy gương hiếu học của Hường làm phương châm dạy dỗ cho con tôi. Ngày con tôi tốt nghiệp đại học, quỳ trước bàn thờ Phật, ông bà và cha của cháu, tôi lạy cảm tạ Trời Phật, những người đã khuất đã cho tôi có được một đứa con ngoan, học giỏi. Tôi cũng cảm tạ những người thân thiết quanh mình và không quên những lời khuyên dạy con qua tấm gương của người bạn tôi rất yêu mến, đó là Hường. Mấy mươi năm đã qua, Hường vẫn là thần tượng, là người bạn tôi mãi thương quý.
 
Nghe bạn bè kể lại, cách đây khoảng hai năm, Hường cùng chồng về VN thăm mộ cha mẹ, Hường đã tìm thăm một số bạn bè cùng lớp CN2 và giúp những người kém may mắn qua cơn ngặt nghèo. Biết được điều nầy, tôi càng thêm cảm phục bạn mình. Với tất cả sự chân thành, xin cảm ơn bạn rất nhiều.
 
Thu Tịnh và Trần Thị Hường
Đôi bạn Trương Thị Thu Tịnh và Trần Thị Hường gặp lại sau 38 năm
Ngày 3–7–2011—Đại Hội Nông Lâm Súc Bình Dương Kỳ I—sau ba mươi tám năm, tôi gặp lại cô bạn gái ngày nào, vẫn giọng nói ngọt ngào, chân thật, khuôn mặt thanh tú, dáng dấp tươi trẻ. Tôi rất mừng khi biết Hường tiếp nối việc học và đạt được sự nghiệp vững vàng.
 
Đại Hội vừa qua, Hường được anh em tín nhiệm bầu làm thành viên của Ban Điều Hành. Tôi nghĩ Hội rất may mắn, với sự mẫn cán, bản tính thích học hỏi ở thời học trò, chắc chắn Hường sẽ góp sức đắc lực xây dựng Hội. Tôi cầu chúc Hường luôn hạnh phúc, khoẻ mạnh, nhất là luôn giữ được nét tươi trẻ do trời ban cho bạn.
 
Trương Thị Thu Tịnh
CN 68–73