Trong đời sống của mỗi con người có rất nhiều dấu mốc. Có những dấu mốc nhẹ nhàng êm ái cho ta cảm giác dễ chịu, hạnh phúc. Có những dấu mốc làm ta chảy máu, nưng mũ, cho ta những đớn đau, tuyệt vọng. Tất cả những dấu mốc đó được nối lại, được kết hợp lại, làm nên cuộc đời của chúng ta. Và đây là vài dấu mốc trong đời tôi.

Mùa hè năm 1972

Đó là mùa hè mà người dân miền Nam gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Lửa đã cháy đỏ. Lửa đã thiêu đốt những thôn ấp, làng mạc. Lửa đã nướng đen thân xác những người dân vô tội, thật thà, lam lũ bên này bờ sông Bến Hải. Lửa cháy đỏ rực theo từng bước chân xâm lược của những người lính miền Bắc tràn xuống miền Nam. Trong tình thế dầu sôi lửa bỏng, đất nước lâm nguy, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã phải quyết định tăng thêm một tuổi trong lệnh tổng động viên.

Chúng tôi, một nhóm học sinh NLSBD đã được hưởng đặc ân từ lần tổng động viên trước, giờ phải cất bước lên đường làm bổn phận người trai trong thời loạn.

Có lẽ nhờ ba năm dầm mưa dãi nắng trong những giờ thực hành nông trại, nhờ ba năm mỗi ngày hai buổi, mỗi buổi lội bộ hai cây số đến trường, và nhờ hít thở không khí trong lành của miền trái cây xứ Thủ mà tôi đã qua trót lọt vòng khám sức khỏe đầy cam go để được chọn vào khóa đầu tiên của năm 72.

Khóa 72A sinh viên sĩ quan Không Quân.

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo nghiệp phi công
 

Tất cả chúng tôi được đưa ra  trung tâm huấn luyện Nha Trang thụ huấn, để được đào tạo  trở thành những người đi mây về gió. Và nơi đây tôi đã gặp lại bạn cùng lớp Nguyễn Tấn Thành (MS2), Ũ Văn Anh Dũng (CT2), Nguyễn Thanh Tâm (CN2), Nguyễn Hoàng Thọ (MS3) cùng trường.

Mở màn là năm  tuần huấn nhục. Năm tuần của hành xác. Năm tuần của mồ hôi và nước mắt. Nước mắt đã làm xanh hơn cho những ngọn thùy dương lơi lả. Mồ hôi đã làm trắng hơn cho những hạt cát trắng Nha Trang.

Ôi không gian giờ đây ta mới biết
Mộng mây trời đã giết chết đời ta.
 

Rồi năm tuần huấn nhục cũng qua, chúng tôi được thoải mái chút đỉnh. Đêm đó tôi gặp Thành trong câu lạc bộ. Thành đang khui lon bánh quế – thứ bánh hộp của quân đội Mỹ. Thấy tôi vào, nó ngoắc lại, chia cho một nửa. Thành gọi cho nó một lon Coca còn tôi một chai xá xị. Miếng bánh làm tôi nhớ đời. Miếng bánh ngọt lịm, bởi năm tuần chỉ toàn cơm nhà bàn. Không một hột đường, chỉ toàn muối và… ớt. Tôi cắn từng miếng bánh nhỏ để thưởng thức. Tôi chắc Thành cũng có cảm giác như tôi. Tôi thấy nó nuốt thật chậm để cảm nhận từng hạnh phúc nhỏ nhoi. Vâng chúng tôi có những niềm hạnh phúc thật nhỏ nhoi tầm thường như thế đó.

Cuối tuần đó tôi và Thành cùng nhau ra phố. Chúng tôi ra Cầu Đá thăm Hải Học Viện Nha Trang, về cầu Xóm Bống, qua Hòn Chồng, rồi đến Tháp Bà. Nơi đây lần đầu chúng tôi làm quen được hai cô gái nữ sinh miền biển.

Chúng tôi vào quán nhỏ dưới chân tháp để trò chuyện, để uống từng ngụm nước dừa xứ Thành, để ngắm những làn sóng từ xa giạt vào bờ dội vào thành đá bắn lên những bọt biển trắng xóa. Ngoài xa kia là những dãy núi nhấp nhô. Quân trường Đồng Đế ở đó.

Anh đứng ngàn năm thao diễn nghĩ
Em nằm xõa tóc đợi chờ anh.
 

Thời gian qua nhanh. Nhìn đồng hồ. Chết! Đã hơn 6 giờ. Giờ phải trình diện trả phép. Tôi đá chân Thành ra dấu cho nó “dọt lẹ”. Chúng tôi từ giả hai nàng và hẹn lần sau gặp lại sau khi không quên xin địa chỉ.

Về đến cổng trại thì đã gần 7 giờ. Thế nào rồi thì cũng một đêm dã chiến. Hai thằng chắc như vậy. Nhưng gì thì gì cũng phải trình diện niên trưởng.

–  Mấy ông sao giờ nầy mới về. Mấy ông có biết bây giờ là mấy giờ không?

Tôi lanh trí hơn Thành:

– Bảy giờ, niên trưởng.

Trong Không Quân, cái tội nhẹ nhất là cái tội dại gái. Tôi mau mắn:

– Tán với bồ nên quên giờ.

– Ông giỡn mặt với tôi hả? Có bằng chứng không?

 Hên quá. Tôi đưa mãnh giấy ghi điạ chỉ của hai nàng cho niên trưởng.

– Được! Khá lắm! Không Quân phải vậy mới được. Lần nầy tha. Tan hàng.

Tôi và Thành vẫn trong thế nghiêm đồng thanh hô to:

– Cố gắng.

Hú hồn!

Vì Thành cao ráo nên được chọn vào Toán Hầu Quốc Quân Kỳ. Dũng được chọn làm cán bộ để dạy khóa đàn em. Tôi, Tâm, Thọ không được ngó ngàng nên đành phải làm đàn anh của các khóa đàn em mà thôi, nên chúng tôi gặp nhau thường xuyên. Một ngày đẹp trời, Tâm báo với tôi là nó được chọn để đi học bay quan sát. Vài ngày tới nó sẽ về Saigon khám sức khỏe trước khi vào trường bay. Thế nào rồi nó cũng về Bình Dương. Nó hỏi tôi có nhắn gì với nàng không. Tôi lắc đầu. Nó khích tướng:

– Không quân gì mà yếu vậy! Phải mạnh lên chứ. Viết đi, tao đem về cho.

Đêm đó tôi suy nghĩ lung lắm. Chẳng thà trong tình trạng mập mờ nầy mà tôi còn hy vọng, còn hơn… Nhưng Tâm cũng có lý. Chẳng thà đau một lần rồi thôi. Nó an ủi:

– Nhưng tao tin mọi chuyện sẽ êm đẹp.

Cuối cùng tôi cũng lấy hết can đảm ra mà viết và Tâm đã đem về Bình Dương. Tôi hồi hộp. Tôi chờ đợi ngày Tâm quay lại Nha Trang. Và nó đã quay về. Nó đưa tôi lá thư hồi âm.

– Đọc đi, đọc cho tao nghe với.

– Vừa phải thôi.

Và tôi hứa:

– Ngày mai tao kể mầy nghe.

Ngày mai thấy tôi không nói gì, chắc nó đã đoán biết. Nó nghĩ chắc phũ phàng lắm. Nhưng với tôi, chỉ mới năm mươi phần trăm phũ phàng mà thôi. Bởi vì nàng không từ chối cũng không chấp nhận. Nàng chỉ nói khơi khơi vậy thôi. Nhưng với tôi – không còn gì nữa. Tất cả đã tan biến. Tôi chỉ có tình yêu thứ nhất – Trao cho em và kèm một phong thư – Em không nhận tức tình tôi đã mất – Tình cho đi không lấy lại bao giờ. Em đã nhận thư – thế thì tình tôi đâu có mất. Nhưng tình tôi đã bỏ tôi rồi.

Tâm vào trường bay, còn lại tôi với Thọ. Sau đó, tôi và Thọ được chọn học bay trực thăng.

Chúng tôi cùng về Saigon khám sức khỏe trước khi vào trường bay. Có một ngày, khoảng 2 giờ chiều khi xong mọi chuyện. Thọ rủ tôi về Nha học vụ NLS để thăm lại người trong mơ đang học tại đấy, và cũng có dịp tôi gặp lại nàng. Tôi đồng ý lên xe cho Thọ chở. Tôi ngồi yên sau mà lòng không an. Tôi sợ. Tôi run. Khi xe dừng trước cổng, tôi giục nó:

 – Thôi chạy đi.

Chắc nó thông cảm. Tôi nghe nó lầm thầm trong miệng:

 – Cái thằng kỳ cục.

Sau đó, mỗi thằng mỗi hướng. Phải hơn 40 năm sau…

Ngày đầu năm 2015

Đêm nay là đêm trừ tịch. Đêm tiễn đưa năm cũ. Đêm đón mừng năm mới. Là gia trưởng, cứ hàng năm, tôi phải cố thức để đến nửa đêm làm lễ cúng giao thừa. Năm nay, bà xã và các con ngủ sớm chỉ còn mình tôi ngồi chờ cúng lễ. Thường như mọi năm tôi mở TV để thưởng thức chương trình văn nghệ mừng xuân từ các chùa nhưng năm nay tôi chỉ muốn ngồi im lặng một mình. Khúc phim quá khứ quay về thật chậm, thật êm ái. Những khuôn mặt bạn bè thân quen hiện dần, hiện dần. Hơn 40 năm, không biết dung nhan đó bây giờ ra sao! Tôi mở laptop gõ vào 3 chữ Nông Lâm Súc trong ô tìm kiếm. Thật bất ngờ, Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Nông Lâm Súc Cần Thơ, Nông Lâm Súc Bình Dương hiện ra. Tôi vội đi vào trang web NLSBDHN.

Đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác. Tôi đã đánh mất một thời gian dài mãi đến bây giờ mới có được cái duyên để gặp lại bạn bè trường cũ. Cảm ơn các bạn đã khai hoang và chăm sóc mảnh đất nầy. Các bạn đã bỏ rất nhiều công sức và thời giờ để kết nối lại những tình cảm bạn bè thân ái, tình thầy trò thắm thiết, tưởng rằng nơi đất khách quê người không có cơ may nào gặp lại.

Ở xứ sở nầy ai cũng cho thời giờ là tiền bạc, vậy mà các bạn đã bỏ qua tất cả. Các bạn đã làm nhiều, nhiều lắm. Càng nghĩ tôi càng khâm phục. Tôi xin vinh danh các bạn. Tôi biết điều đó chẳng cần thiết nhưng các bạn đáng được vinh danh. Tôi lướt qua các danh mục với những rung động, hồi hộp. Qua những hình ảnh cũ của Đại hội 1, Đại hội 2 tôi gặp được Nguyễn Tấn Thành, Nguyễn Thị Phụng những người bạn cùng lớp. Tôi gặp được Ũ văn Anh Dũng người bạn cùng khóa. Đêm đó tôi đã thức gần như trắng đêm. Quay về kỷ niệm của thời học sinh…

Tháng 8 năm 2015: Đại hội 3 NLSBDHN

Hôm đó tôi thức dậy thật sớm, sớm hơn thường lệ. Đầu óc thì cứ nghĩ vẩn vơ, còn làm gì cũng lính qua, lính quýnh. Bà xã cười chế nhạo:

– Làm như đi gặp người yêu không bằng.

Tôi gật đầu:

– Thì cứ cho là như vậy.

Bả nguýt một cái thật dài, dài hơn xa lộ 405 mà tôi sẽ đi đến Đại Hội. Sáng Thứ Bảy, xe cộ cũng vắng. Tôi lái xe thoải mái. Càng thoải  mái tôi càng nghĩ lung tung. Sẽ gặp những ai? Biết nói gì sau hơn 40 năm xa cách? Tôi chạy lố qua nơi tổ chức Đại Hội hồi nào không hay. Cho xe quay đầu lại. Đậu vào bãi đậu xe của Trung Tâm Thương Mại bên cạnh. Hít một hơi dài. Tiến qua khu Đại Hội. Bước tới bàn ghi danh và nhận bảng tên, tôi nghe loáng thoáng tiếng Chị Phụng ở bàn bên kia:

 – Chào anh Thế.

Tôi chưa kịp hồi đáp thì có hai cơn lốc tràn đến. Thành và Dũng. Hai đứa hai bên xốc nách tôi, hỏi thăm dồn dập. Hai đứa đều hỏi những câu gần như giống nhau. Đại loại: Hơn 40 năm mầy trốn đâu? Làm gì? Sống ra sao? Vợ con thế nào? Mấy đứa?

Tôi chới với, trả lời như cái máy. Rồi Thành giới thiệu bà xã. Rồi Dũng giới thiệu tôi với bạn bè quen và không quen. Bạn bè nhiều khi chỉ nghe tên mà chưa từng gặp mặt. Bạn bè đã gặp mặt nhiều lần nhưng chưa biết tên. Tất cả đều vui vẻ, hân hoan. Tôi thấy lòng ấm lại. Những chào đón nồng hậu, những cảm tình chan chứa đã làm lòng tôi xúc động, hạnh phúc.  Tôi đã gặp Thầy Ẩn. Thầy dạy môn Mục súc lớp 11. Tôi nắm tay Thầy thật chặt, thật lâu.

– Chào Thầy! Mừng lắm khi gặp được Thầy. Mừng lắm khi nhìn Thầy được mạnh khỏe.

Thầy từ tốn:

 – Thì Thầy cũng đã trên tám mươi rồi. Gặp lại các anh chị và nhìn các anh chị thành công, Thầy vui rồi.

Tôi cũng có cái hân hạnh được hầu chuyện cùng một chị ngồi bên cạnh. Chị hỏi thăm và nói chuyện văn thơ. Tôi nghe mơ hồ Chị nhắc đến bài thơ  “Canh khổ qua”. Tôi xúc động. Chắc tôi ngố lắm lúc đó. Trả lời không được suôn sẻ mong Chị thông cảm, đừng trách. Tôi cũng vụng về không được biết tên chị. Không đọc bảng tên mà cũng không hỏi. Thật là tắc trách. Xin Chị tha lỗi. Mong lần sau có dịp sẽ tiếp chuyện với Chị nhiều hơn.

Tôi cũng gặp lại Chị Kim Xuân, người bạn cùng lớp đến từ VN. Chúng tôi khơi lại những kỷ niệm quá khứ, hỏi chuyện hiện tại, nhắc đến những bạn bè thân quen thời còn đi học. Tôi lại quên – Khổ quá. Chắc có lẽ già rồi – từ giả và chúc Chị thượng lộ bình an.

Có hai điều tôi tiếc. Một là không được gặp Thầy Ngọc Hiệu Trưởng. Hai là không gặp được Chị Thắm. Thầy Ngọc dạy chúng tôi môn Mục Súc. Thầy rất cởi mở và phóng khoáng, có những tư tưởng mới nhưng không phải vì thế mà vượt qua những đạo đức dân tộc. Không những Thầy dạy chúng tôi về chuyên môn mà còn uốn nắn chúng tôi thành những người thành thật, hữu dụng và nhất là biết nghĩ đến người khác.

Chị Thắm đã không đến dự Đại Hội được. Chị là người tôi quí mến, nghiêm trang nhưng cởi mở. Nói ít nhưng mỗi lời nói ra là làm cho người khác phải lắng nghe chăm chú. Không giỡn cợt thái quá. Sẳn sàng giúp đỡ bạn bè khi cần.

Rất lấy làm hối tiếc không gặp được Thầy Ngọc và Chị Thắm trong kỳ Đại Hội lần nầy. Thôi thì lần tới vậy. Có duyên thì gặp phải không Thầy, phải không Chị?

Khi ngồi ăn trưa nơi Văn Phòng Hiệu Trưởng (1), tôi có dịp hầu chuyện cùng Thầy Vương Thế Đức. Thầy còn rất trẻ nên dễ thông cảm, dễ tâm sự. Những trao đổi về cuộc sống, những thành công, những thất bại, những trôi nổi dòng đời qua những lời tâm sự đã đem lại sự gần gũi hơn trong tình thầy trò, mặc dù tôi chưa từng học với Thầy.

Thầy gợi ý giới thiệu tôi lên khán đài để nói lên tâm sự của mình, để đem niềm thông cảm đến cùng các bạn, nhưng tôi xin từ chối. Tôi không biết là mình có thể đứng vững trên khán đài để nói, hay chưa nói được gì mà nước mắt đã ràn rụa thì quê lắm. Tôi sợ. Đây là lần thứ hai tôi sợ. Lần thứ nhất tôi đã không dám gặp nàng để nói tiếng nói con tim.

Bạn bè thấy tôi ai cũng cho tôi là đứa cứng đầu, nghịch phá nhất lớp nhưng mấy ai hiểu được sự mềm yếu bên trong.

Trong câu chuyện Thầy Đức khuyến khích tôi:

– Tôi đọc bài viết của anh, viết hay, sao không viết cho bạn bè đọc. Dạo sau nầy chỉ thấy anh làm thơ thôi.

– Thầy ơi, tôi cũng cố viết nhưng thấy không giống ai nên xé.

– Những gì anh vừa kể, nếu được ghi lại trong tâm chân thành thì sẽ được đón nhận, được yêu thích. Những gì anh kể và viết, tôi nghĩ anh viết từ cái tâm của mình. Hãy viết cho nhau đọc.

Thôi thì cũng ráng  thử xem. Và tôi viết.

Những gì viết ra, nhắc lại những kỷ niệm đẹp, thánh thiện của tuổi học trò, của tuổi hoa niên. Nếu có sự đụng chạm hay ngộ nhận vô tình nào đó, tất cả đều ngoài ý muốn. Xin tha thứ, chỉ mong “Mua vui cũng được một vài trống canh”.

Phạm Văn Thế (MSK2)

(1) Lều trại được đặt tên tại Đại Hội

 

Ũ Văn Anh Dũng (CT K2), Phạm Văn Thế (MS K2), bạn học, cựu chiến hữu gặp lại sau hơn 40 năm