Khác với kỳ Đại-hội II trước, kỳ này, tôi có những người bạn thân quen, đã có những mối giao tình gắn bó. Rời Salt Lake City, Utah vào một buổi sáng thứ tư, tôi một mình, một xế, khăn gói lên đường trực chỉ xuôi nam, về miền đất hứa California nắng ấm tình nồng. Như đã hẹn trước, tôi sẽ gặp Nguyễn Quan Huy và bà xã hắn, hiện đang “du hí” ở thành phố tội lỗi (sin city) Las Vegas, Nevada để cùng đi chung về Little Sài Gòn, Nam California, tham dự Đại-Hội NLS Bình-Dương kỳ III.
 
Vừa gặp mặt nhau tại Casino Stratosphere, chưa kịp câu xã giao, chào hỏi, vẫn với thói quen cố hữu Huy đã móc “giấy 500” ra lên tiếng trước (từ đây xin tạm dùng điệp ngữ G5 để thay thế cho cụm từ có “chiều dài dân giả” của hơn nửa thế kỷ trước.):
 
- “G5”... cái máy (slot machine) này nó ăn gian tui ông… ơi!
 
- “G5”… tui … trúng ba con số 777 (Jackpot) mà nó không chịu nhả tiền ra ông …”, vừa nói hắn ta vừa chỉ chỉ vào cái máy.
 
Biết tính Huy từ đại hội II ở San Diego, tôi ‘nhe răng’ cười trừ, khoái chí:
 
- “ Ừ, G5… cái máy mắc dịch.
 
- Ê Huy, mình đi kiếm người khiếu nại chứ!? Rồi cùng Huy đi tìm Manager để kiện cáo.
 
Huy, vóc người mạnh mẽ, thẳng tính, có tật hay chửi thề và hơi ‘bướng bỉnh’, nên anh em đặt cho hắn cái tên “Ông trời con” rất ư là thân thương. Trái với cái tính ngang tàng và bướng bỉnh ấy, chị Loan vợ Huy, lại điềm đạm, kiên nhẫn, ăn nói nhỏ nhẹ, biết khéo léo sắp xếp công việc cho gọn gàng. Ông tơ, bà nguyệt xem ra, se duyên cũng...rất ư là... hợp lý, phải có người này, người nọ, như vậy mới có sự hài hòa, tương xứng, bổ khuyết cho nhau. Anh Chị có hai mặt con, ngoan ngoãn, thành đạt, biết vâng lời cha mẹ,  theo lời Huy tâm sự, công lao ấy, phần lớn do sự chăm nom, săn sóc dẫn dắt của chị Loan, còn phần Huy, hắn ta lo toan chuyện sinh kế, làm ăn...vòng ngoài.
 
Sau một đêm dài “trác táng”, ‘vật vã’ với mấy cái máy ‘kéo tiền’ ở sòng bài Las Vegas, cả ba chúng tôi lên đường, tiếp tuc xuôi nam, lần này có Huy cầm lái, nên tôi thong thả ngồi bên cạnh hắn, tha hồ… “thả hồn theo mộng.”
 
Nam California với tôi có nhiều kỷ niệm khó quên. Bốn mươi năm trước, theo đoàn người di tản từ Việt-Nam, tôi đã đặt chân lên miền đất này, đã sống ở trại lều dã chiến dựng trong trại lính Thủy Quân Lục Chiến, Pendleton, Oceanside, khởi đầu cho cuộc sống tha hương, vô định nơi xứ người! Tôi, khi ấy vừa tròn 21, tuổi đời còn quá trẻ, vốn liếng là mớ kiến thức, "lõm bõm" học được từ ngôi trường NLS Bình Dương làm hành trang vào đời. Ngày ấy một thân, một mình, quê hương đã bỏ lại sau lưng, không biết đến khi nào mới quay trở về! Tôi đã quyết định rời trại tị nạn rất sớm, để rồi sau này, khi nhớ lại chuyện ấy, vẫn thấy hối tiếc trong lòng, tôi chọn đi định cư ở bất cứ nơi nào trên đất Mỹ, và hôm sau, có một nhà thờ Mỹ xa lạ ở tiểu bang Utah, nhận bảo lãnh... tôi cùng hai anh chàng độc thân khác.
 
Đang suy tư về quá khứ ‘vụn vặt’ của mình, Huy chợt lên tiếng, đánh thức tôi về với thực tại:
 
” Ê ông, “G5” coi lại đường xá đi, xem có đúng hướng không?
 
“G5, tui muốn đi mướn xe ở phi trường  John Wayne trước khi ghé nhà in Song-Hỷ của cha Nghĩa.“
 
“Ừ, ông cứ tiếp tục 55 South, gặp 405 vẫn lấy hướng South là tới phi trường.”
 
Anh chàng này, chắc trong tử vi có số ‘thân cư thê’, vì chị Loan đã ‘book’ sẵn xe rồi, chỉ việc ghé đến lấy mà đi.
 
Chúng tôi đến nhà in Song-Hỷ khoảng ba giờ chiều thứ năm, trời Calif hôm đó thật trong xanh, có nắng vàng rực rỡ, mọi sinh hoạt vẫn chưa có gì gọi là ‘rục-rịch’,chuẩn bị cho những ngày đại hội sắp tới. Anh chị Nghĩa-Phụng ra tiếp đón ngay cửa, rất ân cần, anh chị thân mật mời chúng tôi, tối nay về nhà của mình, cũng ở gần đó, ăn tối và nghỉ qua đêm, ái chà, còn gì vui thích cho bằng, cám ơn tấm chân tình này nghe.
 
Sau khi đi cùng anh Nghĩa trở lại phi trường John Wayne đón ông ‘Địa’ Hội trưởng Lưu-Xẻn bay đến từ tiểu bang Texas, chúng tôi về lại nhà in Song-Hỷ, khi trờibắt đầu nhá nhem tối, vì còn một số ‘order’ phải làm cho xong, anh chị Nghĩa cùng các cháu chung lưng nhau làm việc, rất chăm chỉ, tận lực! sao cho ấn phẩm của mình ‘finish’ đúng hẹn. Hỏi thăm, mới biết các cháu đang học hành toàn thứ cao cấp! (BS., BA. là chuyện thường tình của con cháu người VN định cư nơi đất nước này). Đã vậy, các cháu lại rất lễ phép, bình dị, khiêm nhường... nói tiếng Việt rất chuẩn.
 
Tối hôm đó, trong bữa tiệc tại nhà anh chị Nghĩa-Phụng, tôi có dịp biết anh chị Lê văn Năm, tác giả bài “Hai hình ảnh-Một cuộc đời”, để rồi sáng sớm hôm sau và hai ngày kế tiếp cùng nhau gắn bó, làm việc chung, thật vui vẻ, thú vị... anh Năm rất tận tình, sốt sắng, trong mọi công việc mà...‘Tư lệnh Có’ hay ông Trưởng ‘Địa’ giao phó, không quản nệ  khó khăn . Anh Năm đã nghỉ hưu, ở nhà được giao nhiệm vụ giữ con, giữ cháu, cuối tuần đi đến các Chùa làm việc công quả; kinh tế gia-đình đã có một tay chị Năm lo toan, ‘chạy gạo’ như những ngày xa xưa khi anh ‘bị’ đi “cải tạo”! Thật đáng kính phục sự hy sinh, nhẫn nại, sức chịu đựng dẻo dai, bền bỉ của người phụ nữ Việt Nam trong mọi hoàn cảnh!
 
Gặp lại anh chị Thành, dù biết anh chị ở lần đại hội II trước, nhưng nay tôi mới có dịp thư thả ngồi hàn huyên, truyên trò, ngày đó anh chị có đứa cháu ngoại mới sanh, bây giờ chắc đã hai, ba tuổi. Anh chị thật nhiệt tình và hiếu khách, anh có cho tôi địa chỉ nhà và mời sau đại hội ghé nhà chơi, tiếc rằng, sau ngày đại hội, bận quá, phải về lại Utah sớm, nên không thể ghé nhà thăm anh chị được, thành thật cáo lỗi anh chị. Hẹn vào môt dịp khác vậy!
 
Trong kỳ đai-hội II, tôi may mắn thân quen với anh Hai-râu, rồi từ đó có những liên lạc gắn bó, thân tình. Nhân một hôm, trước ngày đại hội III vài tuần, đọc trong trang nhà bài viết của anh Hai-râu, viết về chị Thuyết: ‘Người bạn chân tình’, đọc xong, tôi rất cảm kích về sự giúp đỡ nhiệt tình, một cách vô vị lợi của anh chị, tôi mong trong kỳ đại hội III này sẽ có dịp biết anh chị thêm, ai dè, tôi đã may mắn, gặp chị ngay bữa tối hôm đó. Chị còn nhã ý cho những người ở tiểu bang xa xôi, như anh Nam, anh Lưu-Xẻn, hột giống Bầu (Bí?), Mướp và hoa Mai (Mỹ!) chị trồng trong vườn sau nhà chị, để đem về trồng thử nữa... Cám ơn chị Thuyết nhiều, sang năm, Bầu, Bí có ‘đơm bông, kết trái ‘, dù xấu-tốt thế nào, cũng sẽ đăng kết quả lên trang nhà... cho ‘bà con’ xem chơi.
 
Tối hôm sau, tôi lại tình cờ được ngồi chung với anh Các, chồng chị Thuyết và các anh bạn khác trong căn lều ‘Văn phòng Hiệu Trưởng’ cùng uống bia ‘chay’ (không có mồi). Câu chuyện loanh quanh một hồi, cuối cùng được nghe anh kể về những ngày tháng của anh trong quân ngũ, những trải nghiệm, kỷ niệm của một thời binh lửa... mà anh từng chiến đấu, đã bị bắt làm tù binh rồi bị đưa ra bắc VN giam cầm một thời gian, trước khi Sài-gòn bị thất thủ… Bây giờ anh sống cho tương lai con cháu và dĩ nhiên với ‘Người bạn đời chung thủy’ đã cùng anh gắn bó qua biết bao ‘dâu-bể, thăng trầm’.
 
Thấm thoát thế đã qua ba kỳ đại hội, tuy ngắn ngủi, nhưng tình cảm ‘vấn vương’ còn dài, những người bạn ‘áo-nâu’ rất cũ mà lại mới, đã gặp gỡ, đã tiếp chuyện. Những người thầy, người bạn,  cho dù họ cư ngụ thật xa xôi, có người cách xa cả nửa vòng trái đất, và với bao trắc-trở về tuổi tác, phương tiện, nhưng vì tình đồng môn, nghĩa thầy trò, họ đã quây-quần lại với nhau, cứ hai năm một lần, như những cánh chim bạt gió tứ tán khắp nơi, nay quay về tổ ấm. Thôi thì, như anh Hai-râu thường hay tâm sự và khuyến khích tôi qua điện thoại:
 
“Ê, Thảo, ráng viết đại vài hàng đi Thảo,.. nghĩ sao viết vậy, chứ mình đâu phải nhà văn, nhà thơ. Bây giờ đời đâu còn chờ đợi mình nữa! Mình bây giờ chỉ còn trang web này để anh chị em NLS mình trải lòng cho nhau thấy."
 
Ừ thôi thì viết đại dzậy... nghe anh Hai... Anh làm tui nhớ tới một bài hát của Nhạc sĩ T.C. Sơn, đoạn cuối có câu: "Mệt quá thân ta này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi. Mệt quá thân ta này, nằm xuống với đất muôn đời....” Kìa, còn chờ đợi gì nữa? Phải không anh Hai ./.
 
Trần Đình Thảo
CT Khóa 3