Tôi đến Tokyo vào một ngày đầu tháng mười một, với mục đích xem lễ hội mùa thu. Đã từ lâu tôi mong ước được nhìn thấy tận mắt mùa thu với lá đổi màu. Nơi tôi sinh sống thu không bao giờ đến, cây lá vẫn xanh tươi quanh năm, tôi chỉ nhìn thấy mùa thu trên TV hay trong những bức tranh vẽ phong cảnh rừng thu đầy lá vàng rực rỡ, những chiếc lá óng ả như dát vàng làm say đắm lòng người.
 
Sau khi nghiên cưu thời tiết và tham khảo ý kiến với tour du lịch, chúng tôi quyết định lên đương.
 
Máy bay đáp xuống phi trương Narita cách Tokyo khoảng 2 tiếng 30 phút lái xe. Chuyến xe bus đưa cả đoàn về khách sạn trong thành phố, trên xa lộ, hai bên đường là những cánh rừng xanh um, tuy có tiêu điều xơ xác trong gió lạnh, tôi ngỡ ngàng nhận ra chưa có một chiếc lá vàng nào trên cành. Nàng Thu của tôi đâu rồi?
 
Bước vào khách sạn, ngay tại khách sảnh, trên vách tường sau quấy tiếp tân tôi thấy một tấm poster vẽ cảnh rừng thu tuyệt đẹp, có hàng chữ: Sorry quý khách! Nàng Thu năm nay đến muộn, cuối tháng 11 nàng mới đến Tokyo.
 
Thất vọng não nề, chúng tôi dạo phố Tokyo dưới cơn mưa nhẹ, mây xám giăng sầu, trời lạnh 13 độ C nhưng lòng vẫn thấy nóng vì bực bội nàng Thu lỗi hẹn. Chúng tôi chỉ có 6 ngày trên đất Nhật, đâu có thể chờ đến cuối tháng mới gặp được nàng. Đi tới đi lui, mài gót giầy trên hè phố, muốn tìm vài câu thơ để trách người lỗi hẹn, nhưng khổ nỗi chữ nghĩa cứ lộn xộn mãi trong đầu, vì tôi vốn dĩ là hậu duệ của Bùi Kiệm công tử nên xếp chữ mãi cũng không thành vần, thôi đành làm thơ con cóc, nhái theo bài hát.
 
Thu cứ hẹn nhưng Thu đừng đến nhé.
Để lòng buồn tôi dạo khắp Tokyo
Đếm trên tay ngày cứ lụi tàn dần
 
Nàng đến trễ cả tháng làm sao tôi chờ được.
 
Bỗng cô hướng dẫn viên nảy ra một ý mới, cô nói:
 
- Không gặp được Thu thì ta hẹn gặp chàng Phú Sĩ Sơn, chàng hùng vĩ cao to như Từ Hải, mà Từ Hải chỉ thân 10 thước cao thôi, còn chàng Phú Sĩ cao đến 3.776 thước lận!
 
- Vậy thì chúng ta đi ngay bây giờ đi, mà có phải hẹn trước không?
 
- Không cần, vì chàng đứng đó ngàn năm vẫn đợi chúng ta, nhưng để cho chắc chắn không sợ chàng lỗi hẹn như nàng Thu, trước khi đi gặp chàng, chúng ta đến viếng đền Asakusa, một ngôi đền cổ có kiến trúc đặc trưng của xứ Phù Tang, rất linh thiêng, tọa lạc ở ngoại ô Tokyo, xin xâm và cầu thần linh phù hộ.
 
Ngôi đền Asakusa nguy nga, to lớn và lộng lẫy, mang phong cách Nhật Bản, chúng tôi bước qua cổng chính vào trong khuôn viên của ngôi đền, thấy một cái cổng thật lớn, phía trên có mái che, bên dưới treo một đôi giày được thắt bằng rơm rất tinh xảo, nặng khoảng 500 kg. Bước qua cái cổng này, có một hồ nước nhỏ, bên cạnh có treo một cáo gáo dùng để múc nức rửa chân tay cho sạch sẽ trước khi bước qua một cái chòi nhỏ xinh xắn bên trong có một cái đỉnh bàng đồng, khách thập phương lấy (trong túi của mình) một đồng xu (tiền Nhật) bằng kim loại bỏ vào đỉnh, nhưng nhớ ném thật mạnh vào vách đỉnh nghe tiếng vang càng to càng tốt – để đánh thức Thần linh “thức dậy” chứng giám cho lòng thành của mình. Rồi quay qua hồ nước (nhỏ) khác, cũng gần đó, lấy một đồng xu ném xuống hồ nước, tâm thành ý nguyện khấn vái cầu xin thần linh phù hộ, kế tiếp đi đến một cái đỉnh khác được đặt dưới một mái che, từ trong đỉnh, hương khói nhè nhẹ lan tỏa, khách hành hương hơ hai tay trên làn hương khói ấy rồi xoa vào mặt, vào tóc của mình để toàn thân xông hương cho thanh tịnh trước khi bước vào chánh điện đảnh lễ.
 
Cũng trong cái sân này, nép vào một bên là một dãy bàn bên trên có những ống xâm, ai muốn xin xăm thì cứ lấy một ống xăm, nhắm mắt thành tâm khấn vái, tay cầm ống xăm lắc đều cho đến khi có một thẻ xăm bằng tre trên có ghi số rơi ra ngoài, khách coi thẻ xăm số mấy, xin thêm một quẻ âm dương nữa, tức là dùng hai miếng gỗ nhỏ có mặt sấp và mặt ngửa, tung xuống đất nếu được một mặt sấp và một mặt ngửa là được, còn nếu 2 mặt giống nhau thì phải xin xăm lại. Được quẻ xăm rồi thì đem số thẻ lại một cái bàn gần đó, có một ông già người Nhật đoán quẻ giúp cho, ông này chỉ nói duy nhất một thứ tiếng Nhật mà thôi, bạn hiểu hay không thì đó là chuyện của bạn, vì người Nhật có lòng tự cao với dân tộc và văn hóa của họ. Họ không thèm học thêm ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Nhật, họ từng nói - Bạn đến Nhật thì phải học tiếng Nhật. Chỉ có một số người làm những công việc tiếp xúc nhiều với du khách như bán hàng ở những cửa hàng lớn, tài xế taxi, hoặc tiếp tân ở khách sạn mới chịu khó nói tiếng Anh với khách du lịch.
 
Tiền cũng vậy, họ chỉ xài tiền Nhật (đồng yen) mà thôi, nếu bạn muốn mua sắm thì phải trả bằng tiền Nhật, nếu bạn không có và  muốn trả bằng tiền dollar thì người bán hàng không nhận và cũng từ chối đổi tiền giùm cho bạn, bạn chỉ có thể đổi tiền ở ngân hàng, hay ở những dịch vụ đổi tiền mà thôi.
 
Rời ngôi đền cổ Asakusa chúng tôi lên xe bus thẳng tiến đến Phú Sĩ sơn, cách Tokyo khoảng 4 tiếng lái xe, nơi đây có những dãy núi dài, nổi bật nhất là ngọn Phú Sĩ đứng một mình vươn cao hùng vĩ, cao đến 3.776 m, trên đỉnh núi tuyết phủ trắng xóa quanh năm, đây là một ngọn núi lửa đã phun trào lần cuối vào năm 1707. Cùng với sự  kiến tạo của vỏ trái đất với sự phun trào của núi lửa Phú Sĩ đã tạo thành 5 cái hồ thơ mộng dưới chân núi được gọi là Phú Sĩ ngũ hồ. Các hồ này quần tụ thành một chuỗi chạy dài từ phía đông lên phía bắc, rồi vòng sang phía tây bắc của núi Phú Sĩ.
 
Chúng tôi đi dạo trong công viên Oishi Park nằm bên bờ hồ Kawaguchi-ko, đây là hồ đẹp nhất và dài nhất của Phú sĩ ngũ hồ, nằm ở phía bắc núi Phú Sĩ. Công viên rất đẹp với 4 mùa rõ nét, tiêu biểu có các loại hoa cho 4 mùa. Nếu bạn đến đây vào mùa xuân, tháng 4 hoa Anh Đào nở rộ khắp nơi. Vào mùa hè tháng 6 – 7 thì có những luống hoa Oải hương (Lavender) tím ngát cả một góc trời. Rất tiếc chúng tôi không gặp được nàng Thu ở đây, nếu nàng đúng hẹn, thì rừng thu ở núi Phú Sĩ cũng là một tuyệt tác của tạo hóa. 
 
Ngày hôm nay thời tiết xấu với mưa dầm, gió lạnh, chỉ còn những rặng liễu xanh rủ bóng bên hồ, cành lá mềm mại dài tha thướt rũ xuống mặt nước dưới cơn mưa lất phất, trời miền núi lạnh 7 độ C, thật là một ngày không gặp may, chúng tôi đã hẹn với chàng Phú Sĩ rồi, nhưng sao còn gặp Chức Nữ khóc sụt sùi ở đây, đem theo mây xám giăng sầu che ngang chàng Phú Sĩ, hay chàng mắc cỡ nên kéo mây che mái đầu bạc muôn thuở của chàng? Chúng tôi muốn chụp chung với chàng vài tấm hình làm kỷ niệm, nhưng đợi mãi đến chiều chàng vẫn ẩn mình trong mây mù, đành ngậm ngùi chia tay.
 
Trước đây mỗi khi xem những hình ảnh về đất nước mặt trời mọc, ngoài cái mặt trời đỏ in trên lá cờ Nhật Bản, tôi thấy một biểu tượng nữa là một cái cổng sơn màu đỏ dựng trên mặt hồ nước mênh mông phẳng lặng, tôi không hiểu ý nghĩa của biểu tượng này. Nhưng khi đi dạo ở vùng núi Phú Sĩ, tôi nhìn thấy trên mặt hồ Hakone (một hồ trong chuỗi Phú Sĩ ngũ hồ) một cánh cổng sơn màu đỏ rọi bóng xuống mặt nước yên tĩnh, kết hợp với núi Phú Sĩ tạo nên một vẻ dẹp rất đạc biệt của xứ Phù Tang. Được biết trên khắp nước Nhật có rất nhiều cánh cổng màu đỏ được dựng lên trên những đỉnh đồi, trên núi cao, trước những ngôi đền, chùa, hay trên mặt hồ. mặt biển. Tất cả đều được sơn màu đỏ, người Nhật gọi là cánh cổng Thiền Torri. Nổi tiếng nhất là cánh cổng Thiền Torri của đền Itsukushima (là một ngôi đền Thần Đạo) ở  đảo Miyajima ngập trong nước biển mênh mông phẳng lặng, phía trước có núi Misen, đây là một trong 3 cảnh đẹp nhất của Nhật Bản và cánh cổng Thiền Torii này được chọn làm biểu tượng cho đất nước Phù Tang. Trong quan niệm của Thần Đạo, cánh cổng Thiền Torii có ý nghĩa: một bên là thế giới phàm tục, bước qua cánh cổng bên kia là thế giới linh thiêng. Phía trước  những ngôi đền ở Nhật đều có dựng cánh cổng Thiền Torri, tín đồ Thần Đạo phải qua một nghi thức rửa tay, ngậm nước cho thân thể trong sạch, thanh tịnh trước khi bước qua cổng Torri vào chánh điện đảnh lễ.
 
Dưới chân núi Phú Sĩ, ngôi làng cổ Oshinohakkai với những ngôi nhà mang đậm nét kiến trúc của Nhật Bản thời xa xưa, nhà toàn bằng gỗ, với lớp cửa bằng giấy dầu màu trắng đục, nhìn cũng đẹp như những cửa bằng kính đương thời, nhà nào cũng đẹp và có một khoảnh sân vườn trồng cây cỏ, hoa kiểng xung quanh, có những ngôi nhà còn tồn tại mái bằng cỏ tranh dầy khoảng nửa mét với kiến trúc như đôi bàn tay chắp lại nguyện cầu.
 
Con đường rải đá xinh xắn, yên tĩnh vòng vèo quanh những ngôi nhà xuyên qua giữa làng, đưa chúng tôi đến trung tâm. Nơi đây có khu chợ buôn bán thực phẩm, đồ dùng cần thiết trong gia đình, nhà hàng, siêu thị, chợ bán trái cây tươi, tôi ngạc nhiên khi trông thấy họ bày bán những trái hồng to tròn bằng cái chén ăn cơm màu đỏ cam rất đẹp.
 
Khu mua sắm này nằm bên một cái hồ nước lớn, gần hồ có xây một bể nước nhỏ có một dòng nước chảy không bao giờ ngưng, đây là ống nước được dẫn từ mạch suối có nhiều khoáng chất thiên nhiên từ trên núi xuống, nước trong veo và tinh khiết có thể dùng để uống, hoặc ai muốn lấy nước này về nhà tắm (vì có nhiều khoáng chất) thì cứ lấy về miễn phí, nước cứ chảy, tràn hồ nhỏ thì nó sẽ chảy vào hồ lớn, trên hồ có cây cầu nhỏ, cong, kiến trúc kiểu cổ của Nhật Bản nối hai bên bờ hồ đẹp như tranh thủy mạc.
 
Buổi tối, chúng tôi vào một khách sạn dưới chân núi Phú Sĩ, một khách sạn rất thú vị với phong cách hoàn toàn Nhật Bản, nơi đây chúng tôi được làm người Nhật một đêm -Từ trang phục, thức ăn, phòng ăn, phòng ngủ.
 
Ngoài phòng tắm cũng giống như bao phòng tắm khác, nhưng khi kéo cánh cửa lùa bằng gỗ nhẹ có dán giấy dầu màu trắng ngăn cách giữa phòng tắm và phòng ngủ, tôi cảm thấy thích thú và thoải mái khi nhìn thấy một gian phòng rộng, giản dị nhưng ngăn nắp, sạch sẽ và có tính mỹ thuật, giữa phòng có hai tấm nệm trắng đặt cạnh nhau dưới sàn nhà bằng gỗ sạch bóng không một chút bụi, gần  bên cạnh có một cái phòng nhỏ trông giống như cái tủ, kéo của lùa ra tôi thấy bên trong có thêm một chổ ngủ nữa, được trải chiếu sạch sẽ, có mền, gối để sẵn, chổ nằm này cũng rộng, có 2 tầng, mỗi tầng đủ cho một người nằm thoải mái, người Nhật gọi là phòng ngủ con nhộng, họ thích nằm trong phòng nhỏ kín này để giảm stress.
 
Sát tường cò cái bàn rất thấp để sẵn 2 cái áo Kimono được gấp lại thẳng như mới ủi, bên cạnh áo là 2 sợi dây thắt lưng bằng vải được thắt lại như một cái hoa.
 
Một tấm bình phong bằng gỗ có dán giấy dầu màu trắng đục như sữa ngăn cách hai tấm nêm với cái bàn thấp có 2 cái ghế đặc biệt có lưng dựa, nhưng không có chân ghế, trên bàn có bộ bình trà, 2 tách nhỏ và những gói trà xanh Nhật Bản, một cái ấm đun nước sôi bằng điện để khách tự nấu nước pha trà uống, trời lạnh uống một tách trà nóng vớ hương trà thơm dịu thật là sảng khoái.
 
 
Tới giờ ăn tối, tất cả chúng tôi đều mặc kimono, mang dép Nhật, đi xuống phòng ăn. Trước khi thay áo kimono, cô hướng dẫn viên của đoàn (người VN nhưng biết nói tiếng Nhật) chỉ cách mặc áo, có một sự khác biệt nho nhỏ: Người sống mặc áo kimono thì vạt phải đắp lên trên vạt áo  trái, còn người chết thì mặc ngược lại. Cả đám làm theo và hí hửng dắt nhau xuống phòng ăn.
 
Trước cửa có một ông và một bà người Nhật (nhân viên của khách sạn) đứng chờ, khi cả đám đến, họ cúi nghiêng người 45 độ chào chúng tôi, nhưng khi đứng thẳng người trở lại, họ ồ lên với đôi mắt tròn xoe làm chúng tôi không hiểu gì hết. Bà túm lấy tôi (vì tôi đứng gần bà nhất) miệng bà xổ một tràng líu lo tiếng Nhật, tay bà giật tung chiếc thắt lưng của tôi, bà sửa lại vạt áo trái đắp lên vạt áo phải, bà gọi cô hướng dẫn viên của đoàn đến nghe bà xì xồ cho một tràng, mới hay ra cô hướng dẫn viên này nhớ ngược lại, biến chúng tôi thành những xác chết biết đi, hèn gì bà hoảng là phải!
 
Trước khi bước vào phòng ăn, tất cả mọi người phải để dép bên ngoài, thức ăn đã được dọn sẵn sàng trên dãy bàn dài, rất thấp, mọi người ngồi trên ghế có nêm, có lưng dưa, nhưng không có chân ghế. Mỗi người một mâm cơm riêng, thức ăn thì gióng nhau, gồm có: một tô súp nóng có rau tươi, thịt bò cắt lát mỏng, có lửa giữ nóng bên dưới, một chén cơm nhỏ (cơm của người Nhật rất dẻo) một chén nhỏ đựng một miếng tàu hũ chiên to bằng 2 ngón tay, một dĩa nhỏ đựng 2 miếng cá Hồi (Salmon) còn sống, cũng to bằng 2 ngón tay, một dĩa nhỏ đựng củ cải ngâm dấm đường, không chua có vị hơi ngọt nhưng ăn rất dòn, món này hầu như có mặt trong tất cả bữa cơm của người Nhật. đặc biệt có nguyên một quả trứng gà còn sống nằm trong một cái chén nhỏ đặt giữa mâm cơm, mỗi người còn có một chùm nho tươi để tráng miệng nữa.
 
Chúng tôi được hướng dẫn cách ăn: Đập quả trứng vào cái chén nhỏ, dùng đũa khuấy cho lòng trắng và lòng đỏ hòa quyện lại, nếu ai ăn được cá sống thì gắp cá chấm vào trứng gà (sống) ăn, còn ai không ăn được thì nhúng cá vào tô súp đang sôi (trong mâm cơm của mình) rồi chấm vào trứng gà ăn, gắp thịt bò (trong tô súp) cũng nhúng vào trứng gà ăn, họ nói đây là loại trứng gà được nuôi bằng loại thức ăn đặc biệt nên trứng không có tanh như loại trứng gà thường, loại trứng để ăn sống này rất tươi, chỉ khoảng 3 ngày thôi, nếu sau 3 ngày mà không tiêu thụ hết thì để làm bánh, hay nấu những món khác, không dùng để ăn sống nữa. Mọi người ăn thử, mà đúng như vậy, trứng không có tanh mà còn có vị béo, khá ngon.
 
Mâm cơm của người Nhật thanh đạm, nhưng đầy đủ dinh dưỡng. Người Nhật đặc biệt không ăn xương, như xương bò, xương heo, cá thì họ lóc lấy thịt chứ không ăn nguyên con có nhiều xương như người VN minh. Họ nấu súp rất ngon, ngọt, nhưng không hầm bằng xương heo hay bò. họ dùng một loại cá được lóc thịt, rồi cắt thành sợi phơi khô để dành nấu súp. Súp có nhiều loại khác nhau: súp chua chua, súp ngọt đậm đà với hải sản, hay súp chay chỉ nấu với nấm, rau và tàu hũ. Tôi thấy súp nào cũng ngon vì trời lạnh ăn súp nóng thật tuyệt vời.
 
Nước Nhật nhiều núi, đồng bằng ít, đất canh tác không nhiều, dân số lại đông, vì thế họ rất quí trọng thực phẩm, Con nít đi học, ngay từ lớp mẫu giáo cũng đã được dạy phải quí hạt gạo do nông dân khổ cực mới trồng ra lúa gạo, nên ăn là phải ăn cho hết không được bỏ phí. Tuy quan niệm như vậy nhưng với tấm lòng nhân hậu, cho dù thực phẩm mắc và quí, người nông dân Nhật khi gặt lúa hay thu hoạch hoa mau, họ luôn để dành lại một khoảng nhỏ lúa không gặt trên cánh đồng, dành cho chim và thú vật có thức ăn để sống.
 
Sau bữa cơm tối, chúng tôi được khuyến khích đi tắm Onsen, nghĩa là ngâm mình trong nước suối nóng 40 độ C, đây là nước suối khoáng thiên nhiên, và nóng tự nhiên được chuyển từ trên núi về, ngâm nước suối khoáng chất có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên khi tắm cũng phải theo phong cách của người Nhật, nghĩa là mọi người tắm chung; tất cả đều thoát y 100% trước khi ngâm mình dưới hồ nước nóng. Khách phải tắm trên bờ với xà bông, dưới vòi nước cho sạch rồi mới bước xuống hồ.
 
Mới nghe tới đây mấy cô la chí chóe phản đối, còn mấy chàng thì khoái chí tủm tỉm cười, ai dè người nhân viên khách sạn nói chưa hết ý, họ cố tình nói lững lờ cho mọi người hiểu lầm là đàn ông, đàn bà tắm chung, làm cho các chàng tưởng bở được một phen tắm chung với mấy nàng như thời con người còn sơ khai. Mấy chàng thất vọng khi được giải thích thêm, khu vực tắm nước suối khoáng được chia làm hai, bên phải có tấm màn che cửa màu xanh dương là khu dành cho mấy ông, bên mé trái có tấm màn cửa màu đỏ là khu dành cho mấy bà.
 
Bước qua cái cửa có che tấm màn là phải thoát y 100% mỗi người chỉ được mang theo một cái khăn lông nhỏ để tắm xong lau người. Trong lúc ngâm mình trong nước nóng thì cái khăn đó buộc lên đầu cho khỏi bị ướt, còn quần áo thay ra để vào một cái rổ hình chữ nhựt, cho vào một cái hộc tủ khóa lại. Đeo cái vòng có chìa khóa của mình vào cổ tay.
 
Bước qua một cái cửa kính là hồ tắm, được thiết kế như hồ bơi nhưng cạn hơn, khi mình ngồi xuống, nước chỉ ngập đến cổ thôi, sau khi tắm sạch bằng sà bông, bước xuống hồ, mới đầu cảm thấy nước nóng, nhưng ngâm chừng 10 phút thấy ấm áp và dễ chịu. Sau một giờ ngâm mình trong nước nóng cảm thấy buồn ngủ, mọi người bước ra khỏi hồ, trông ai cũng đỏ như tôm luộc, nhưng da không bị phỏng, toàn thân cảm thấy ấm áp mặc dù trời lạnh 7 độ C.
 
Buổi tối ngủ ngon, đánh một giấc đến sáng.
 
Hôm sau chúng tôi rời vùng núi, xe bus đưa cả đoàn đến vùng biển đầy nắng. Hải cảng Yokohama lâu đời của Nhật Bản, mọi người vào xem viện bảo tàng của những chiến thuyền một thời tung hoành trên các đại dương cách đây trên trăm năm, bây giờ về hưu, nằm phơi mình dưới nắng cho du khách vào xem, mặc dù những chiến thuyền đã cũ kỹ, nhưng được bảo trì kỹ lưỡng nên trông vẫn còn đẹp, du khách thầm cảm phục tài đóng thuyền của người xưa.
 
Đến Nhật mà chưa biết thịt bò Kobe ra sao là coi như chưa đến Nhật. Vì vậy chúng tôi rủ nhau đi ăn Kobe's beefsteak. Bò Kobe là một giống bò nổi tiếng của Nhạt Bản, được nuôi ở vùng có địa danh tên là Kobe với phương pháp và thức ăn đặc biệt, bò không phải làm việc kéo xe hay cày bừa như bò VN mình, được ăn no, nằm lim dim nghe nhạc nhẹ, loại nhạc cổ điển êm dịu. Khát thì uống bia, hay rượu vang, mỗi ngày còn được chuyên viên đám bóp massage cho cơ bắp thoải mái. Sản phẩm thịt bò Kobe được kiểm soát rất kỹ, mỗi ngày chỉ làm thịt vài con bò thôi, không xuất cảng ra ngoài nước Nhật, thịt bò Kobe có nhiều vân mỡ đan trong thớ thịt làm cho miếng thịt mềm, không bị khô khi chế biến món ăn. Một bữa ăn tối với miếng beefsteak to bằng bàn tay, dầy khoảng 2 cm, nặng khoảng 1 pound, ăn kèm với dĩa salad, khoai tây chiên, và một chén cơm cari nấu theo lối Nhật, giá 150 dollars cho một phần ăn / một người.
 
Người Nhật còn có món Sushi và Sashimi nổi tiếng, được rất nhiều người trên thế giới ưa chuộng. Sushi có thể làm với trứng gà chiên omelette, hay cá sống, hay mực tươi (còn sống) hay làm Sushi chay với tàu hũ chiên và các loại rau. hay các loại trái cây như kiwi, trái bơ (avocado) hay xoài chín. Trong nhà hàng ở Tokyo chúng tôi được xem người đầu bếp biểu diễn cách cuốn Sushi. Ông trải tấm vỉ bằng tre lên tấm gỗ hình chữ nhật, trải lên tấm vỉ tre một miếng plastic mỏng, ông lấy một muỗng cơm dẻo (Sushi rice, một loại gạo rất dẻo để làm sushi) làm thành một lớp cơm mỏng lên miếng plastic, để lên cơm một miếng tảo khô nori (rong biển), xếp lên trên miếng tảo nori vài miếng cá còn sống được cắt lát mỏng, thêm củ cải ngâm dấm đường, hay rong biển rồi cuộn lại thành một thỏi dài (khi cuốn lại, không cuốn miếng plastic, miếng này chỉ trải trên miếng vỉ tre để cho dễ cuốn và cơm không dính vào vỉ tre) sau đó cắt từng khoanh dầy khoảng 2 cm, xếp lên dĩa hình chữ nhựt, trang trí thêm vài lát gừng non ngâm giám gari bên cạnh.
 
Sashimi là món ăn chỉ toàn là những lát cá sống được cắt hơi dầy một chút, xép lên dĩa với những lát gừng ngâm giấm gari. Khi ăn Sushi và Sashimi được chấm với nước tương Shoyu có pha một chút Wasabi (một loại moutarde màu xanh) cay xé lưỡi và nồng lên đến óc.
 
Nếu muốn đúng điệu, theo phong cách ẩm thực của dân Nhật, khi ăn Sushi và Sashimi thì phải uống rượu Sake hâm nóng, đựng trong nhạo chuyên đựng rượu Sake và uống rượu trong những chung tròn bé xíu.
 
Sushi và Sashimi không bao giờ dùng loại cá nước ngọt, có lẽ vì nguy cơ nhiễm vi khuẩn và giun sán cao, mà chỉ dùng các loại cá biển thuộc nhóm thượng đẳng như: cá Red Tuna, Sea Bass, Red Snapper, Mackerel... hay lươn biển, bạch tuộc, mực... còn rất tươi, và được kiểm tra rất kỹ về vệ sinh thực phẩm. Người ta ước lượng vài chục năm nữa những giống cá thượng đẳng này sẽ bị tuyệt chủng vì cá không tăng trưởng kịp để cung ứng cho các thượng đế ghiền Sushi và Sashimi trên toàn thế giới.
 
Một điều lý thú khi được biết về lịch sử ban đầu của món ăn này, ngày xưa Sushi là món ăn bình dân của người nghèo, họ làm những cuộn Sushi gọn nhẹ, dễ dàng gói đem theo trong những lúc làm việc trên nương rẫy, hay đi làm xa nhà không thể về nhà ăn cơm. Bây giờ hai món ăn này “chạy” vào nhà hàng, được chế biến cầu kỳ thêm, trở thành món ăn nổi tiếng được cả hai giới giàu và nghèo đều ưa thích. 
 
Tokyo là thủ đô của đất nước Mặt Trời mọc, một thành phố lớn với dân số 28 triệu dân, nhưng khi chúng tôi đi dạo ngoài đường không thấy đông người và xe cộ, bởi chính phủ Nhật khuyến khích người dân dùng xe công cộng để di chuyển như xe bus, tàu lửa tốc hành, hay xe điện ngầm. Học sinh đến trường bằng xe bus của trường, cha mẹ không được phép lái xe (riêng của gia đình) đưa con đến trường. Các em học bậc tiểu học đã được huấn luyện có tinh thần tự lập ngay từ hồi mới vào học mẫu giáo, các bà mẹ tiễn con đi học chỉ đến bậc thềm trước nhà, các em nhỏ sẽ đi bộ đến trạm xe bus (loại dành riêng cho học sinh) chỉ cách nhà vài chục mét, ở đây có các anh, chị học lớp lớn hơn như lớp tư, lớp năm và cô giáo phụ trách về xã hội học đường giúp đỡ cho các em. Khi xe bus chạy đến khu vực trường học, các em xếp hàng 2 đi vào trường, nếu phải băng qua đường, các anh chị lớp lớn hơn đứng cầm cờ ngăn xe ngừng lại cho một đoàn học sinh băng qua, dưới sự hổ trợ của những nhân viên an ninh của trương. Vừa đi các em vừa hát “Dù trời mưa, hay nắng, dù gió tuyết hay sương mù, em vẫn đi...”  cùng vói bộ quần áo đồng phục giống nhau từ đôi giày cho đến cái áo lạnh, đặc biệt cái balo trên lưng - chỉ duy nhật một kiểu balo dành riêng cho bậc tiểu học, dùng suốt 5 năm học chỉ xài một cái. Khi học lên trung học sẽ có kiểu balo khác dành riêng cho bậc trung học. Người Nhật đã dạy cho con em của họ biết tiết kiệm và bình đẳng giữa giàu và nghèo qua những bộ đồng phục đến trường.
 
Ở Nhật Bản, xe cộ chạy bên trái, bạn phải nhớ điều đó khi bạn đi bộ cũng phải đi bên lề trái, đừng có theo thói quen như bên mình, lái xe hay đi bộ bên lề phải, lỡ gặp tai nạn thì chẳng có ai đền cho đâu.
 
Nói về nước Nhật là người ta nghĩ đến hoa Anh Đào, và hình ành nàng Geisha xinh đẹp trong chiếc áo Kimono, nếu so sánh với những quốc phục khác của những quốc gia trên thế giới thì áo Kimono cũng là một trong những quốc phục đẹp và kín đáo nhát, người ta không thấy một chổ nào trên cơ thể người phụ nữ được để lộ ra, thậm chí đôi bàn chân cũng được dấu kín trong vớ trắng, chỉ còn đôi bàn tay và gương mặt cho người ta ngắm thôi. Tuy nhiên vẫn có một chỗ được cố tình để hở cho người khác phái ngắm nhìn - Đó là cái gáy. một cái cổ với chiếc gáy thon thả là một nét đẹp của người phụ nữ theo quan niệm đã có từ xa xưa của người Nhật. Một cô gái mặc áo Kimono với mái tóc được bới cầu kỳ lên cao với mục đích để lộ chiếc gáy thon – nhưng làm như thế các nàng vẫn cảm thấy chưa đủ (lộ cái gáy) các nàng còn kéo cổ áo Kimono hở ra và trể xuống lưng thêm một chút nữa, cố ý phô bày cái gáy xinh đẹp. Người ta cho rằng chiếc gáy là điểm đặc biệt, quyến rũ người khác giới nhất trên cơ thể của người phụ nữ. 
 
Đặc biệt với các nàng Geisha trang điểm gương mặt trắng toát bằng phấn gạo trắng, tô đôi môi đỏ chót, nhỏ xíu như một nụ hoa Anh đào, các nàng còn chăm chú trang điểm chiếc gáy bằng phấn gạo với những đường nét tinh tế, nghệ thuật, chỉ chừa 2 – 3 đường màu da thật thôi.
 
Một chiếc áo Kimono truyền thống nặng khoảng 10 kg, có từ 13 – 20 lớp áo với nhiều dây thắt và nơ buộc, mặc chiếc áo này phải có người phụ giúp, cũng mất khoảng một tiếng đồng hồ, có lẽ vì quá cầu kỳ mà ngày nay người Nhật mặc âu phục cho gon, nhẹ trong sinh hoạt đời sống thường ngày. Tuy nhiên áo Kimono rất phổ biến với người Nhật, trong một đời người, họ mặc kimono khoảng 2- 3 lần, trong những dịp trọng đại như: Lễ cưới, lễ tốt nghiệp, hoặc mặc kimono khi “về” trình diện tổ tiên.
 
Người Nhật rất quý trọng mái ấm gia đình, khi người phụ nữ Nhật lập gia đình, có con, họ không đi làm nữa, họ ờ nhà lo việc nội trợ, săn sóc chồng con, và chăm sóc nhà cửa, vườn tược Ngày xưa có câu nói “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật” tôi không biết ngày nay người vợ Nhật có còn quỳ gối trước thềm nhà chờ chồng đi làm về, để cởi giày cho chồng nữa không, nhưng tôi đã nhìn thấy người phụ nữ Nhật mặc áo Kimono (áo dùng cho sinh hoạt bình thường chỉ có 1 – 2 lớp áo thôi) quỳ gối dọn thức ăn cho gia đình, vì cái áo Kimono bó chặt lấy 2 chân khiến người mặc nó chỉ có thể đứng, hoặc quỳ gối chú không thể ngồi được, mà bên Nhật lại không dùng bàn ghế có chân ghế cao. 
 
Sự đảm đang của người phụ nữ Nhật qua cách chăm sóc nhà cửa, sạch sẽ, ngăn nắp và đầy tính mỹ thuật, như nghệ thuật cắm hoa, họ chỉ cần một vài bông hoa, hay những cành cây khô... họ cũng có thể làm thành một bình hoa thật đặc sắc. Ngoài ra họ còn có nghệ thuật cắt tỉa  những cây kiểng Bonsai xinh xắn đã làm nên một phong cách vườn Nhật nổi tiếng trên thế giới. Họ làm công việc nội trợ chăm sóc gia đình, nhưng chính phủ cũng coi như một nghề, họ trích một phần lương của người chồng và chi thêm (theo % mức lương hàng tháng của người chồng) để vào quỹ, khi người vợ đến tuổi hưu trí được  lãnh lương hưu hàng tháng.
 
Người đàn ông Nhật cũng nổi tiếng là những người chồng gương mẫu, nhưng đôi khi cũng có những trường hợp ngoại lệ. Có những ông chán soup của vợ nấu không ngon ngọt bằng bà hàng xóm, bèn  đổi khẩu vị, lén lút hẹn hò. Bà vợ nghi ngờ nhưng vẫn trầm tĩnh, nhờ thám tử tư theo dõi, thu thập đầy đủ bằng chứng ngoại tình của ông chồng phản bội, rồi bà đem cất vào két sắt. Bà chờ đến ngày kẻ bạc tình kia “cáo lão” về hưu, cũng là lúc các con trưởng thành, bà mới đem đống hồ sơ đó ra tòa án xin ly dị. Ở Nhật Bản một người đi làm suốt mấy mươi năm, đóng thuế đầy đủ, khi về hưu họ được lãnh (benefit) một lần một số tiền rất lớn, ngoài tiền hưu lãnh hàng tháng. Bà vợ ly dị ông chồng với lý do chánh đáng, bà sẽ được chia 50%, số tiền này, ngoài ra bà cũng vẫn lãnh được tiền hưu hàng tháng riêng của bà. Bà từ biệt cảnh hầu hạ ông chồng, từ giã ông Táo, bà vui hưởng tuổi già với du lịch và tự do. Có nhiều ông quen với cảnh được vợ hầu hạ, đi làm về, cơm dẻo canh ngọt đã dọn sẵn trên bàn, nay gặp cảnh đơn chiếc vì vợ ra đi không hẹn ngày trở lại, các con đã lập gia đình, hay đi làm xa, ông phải tự nấu cơm, tự làm những việc mà trước đây ông không hề bận tâm, ông cảm thấy buồn, chán đời bèn làm đơn xin Thượng đế thuyên chuyển về thế giới bên kia cho vơi sầu cô quạnh.
 
Phe ta cũng nên học chiêu nhẫn nhịn (chờ thời cơ) của mấy bà Nhật này. Họ rất trầm tĩnh không như phe ta - lỡ nghe tin ông chồng phụ bạc, máu Hoạn Thư nổi lên đùng đùng, phải tức tốc đi bắt ghen, đánh ghen cho hả dạ, rồi li dị ngay khi máu ghen còn đang nóng trong đầu, li dị rồi với số tiền cấp dưỡng ít ỏi nuôi con (còn nhỏ dại) đâu đủ trang trải cho cuộc sống của một người mẹ không đi làm vì vướng bận con nhỏ. Ngẫm lại mới thấy phục mấy bà vợ Nhật có tâm tính nhẫn nại và sức chịu đựng trầm tĩnh của họ.
 
Nhật Bản có nhiều cái hay về văn hóa, nghệ thuật và dân tộc tính của họ cũng làm cho thế giới ngưỡng mộ và kính phục. Nhưng cái mề đay nào cũng có hai mặt: đẹp và xấu. Nhật Bản là một quốc gia được cho là già nua, vì người già nhiều hơn người trẻ. Tuổi trẻ bây giờ thích sống độc thân, không thích có con nhỏ, mặc dù chính phủ có nhiều chính sách ưu đãi dành cho những gia đình có con nhỏ. Đời sống cao, vật giá mắc mỏ có lẽ cũng là một trong những nguyên nhân làm cho người trẻ tuổi chọn lối sống độc thân.
 
Người Nhật có tinh thần kỷ luật và lòng tự trọng rất cao. Ngày xưa thời Nhật chiếm đóng cai trị nước ta, nếu ai phạm tội ăn cắp thì bị chặt tay, ngày nay trên chính quê hương Nhật Bản, tội ăn cắp cũng là một tội nặng, cho dù chỉ ăn cắp một cái bánh cũng bị xử ngang với tội ăn cướp ngân hàng, ra tòa bị xử án tù 2 năm trở lên. 
 
Có một số người già sóng cô độc với lương hưu thấp, không có con cháu giúp đỡ, vật giá đắt đỏ, bảo hiểm y tế cao, họ không đủ tiền chi trả cho đời sống. Họ đành phải bán rẻ lòng tự trong, họ vào siêu thị ăn cắp một vật gì đò để được bị bắt vào tù,  ở trong đó họ không phải lo lắng về đời sống, có thư viện, họ có thể đọc sách, có bạn tán gẫu, đến giờ ăn có cơm sẵn sàng, đi ngủ có... lính gác, khi bị bệnh được vào nhà thương (trong tù) chăm sóc y tế miễn phí. Tất cả chi phí đều do chính phủ đài thọ. Theo thống kê cho biết, chi phí nuôi một tù nhân ở Nhạt Bản cao hơn lương hưu của người già rất nhiều, vì thế số lượng người già vào tù càng ngày càng tăng. Nòi tóm lại sống trong nhà tù của chính phủ Nhật thoải mái hơn ở ngoài, nên những người già cô đơn, lương hưu thấp đều tìm cách “tự nguyện” vào tù để an hưởng những lợi ích của nhà tù mà ở ngoài đời họ không đủ sức chi trả.
 
Đôi khi du khách đi dạo trong công viên gặp vài người không nhà, nằm ngủ mỏi mệt trên ghế đá, nếu có người dân Nhật nào đó nhìn thấy, họ sẽ gọi điện thoại cho cảnh sát, năm phút sau xe cảnh sát đến, đem họ vào trại tạm cư dành cho những người vô gia cư, ở đây họ dược ngủ trên giường ấm, nệm êm, có soup nóng miễn phí, nhưng rồi họ lại trốn ra ngoài tiếp tục lấy trời làm màn, ghế đá công viên làm giường. Họ là những người bị thất bại trong cuộc sống, họ bị trầm cảm, có lẽ vì lòng tự trọng nên họ không muốn sống nhờ vào bất cứ ai, dù là trợ cấp của chính phủ, lâu dần sinh ra bất đắc chí, dẫn đến tự tử.
 
Một buổi chiều chúng tôi lang thang trong khu thương xá lớn, tôi thấy một khách hàng từ trong cửa hàng đi ra, cô bán hàng đi theo sau tiễn khách ra tận ngoài cửa, rồi cô cúi gập người 45 độ chào... cái lưng của bà khách trong khi bà đi thẳng không hề quay lại.
 
Trên chuyến bay trở về nhà, vừa bước vào cửa máy bay, tôi thấy một hàng nữ tiếp viên hàng không của hãng Nippon Airways mặc đồng phục rất đẹp, môi nở nụ cười tươi như hoa trên gương mặt rất dịu hiền, các cô cúi gập người 45 độ chào khách. Khi máy bay đáp xuống, chúng tôi bước ra khỏi máy bay, lại thấy các cô đứng một hàng chỉnh tề, cúi gập người tiễn khách. Thật là một cử chỉ trân trọng làm người khác như tôi phải nghiêng mình thán phục.
 
Một tuần lễ ở Nhật, một thời gian quá ngắn để hiểu biết về một đất nước, tôi ngắm nhìn nước Nhật giống như tôi đứng bên hàng rào nhìn qua nhà hàng xóm, tôi chỉ thấy cảnh bên ngoài thôi, còn bên trong ngôi nhà vẫn còn nhiều huyền thoại mà tôi chưa có dịp khám phá. Tôi mong có một ngày đẹp trời, tôi sẽ trở lại thăm đất nước của những nàng Gheisha xinh đẹp. Tôi hi vọng sẽ được ngắm hoa Anh Đào trên chính quê hương của nó xem có giống những cánh hoa Anh Đào lạc xứ lưu vong không.
 
Tuyết Phương Nam