Rầm... Tiếng nổ lớn. Tôi bàng hoàng dừng chiếc xe đạp, lòng đau như cắt khi nhìn những mảnh vỡ của 6 cái khạp tôi vừa mua từ trong lò gốm, tung tóe trên mặt đất. Khổ thật, tôi chỉ mới ra khỏi lò gốm chưa đầy nửa cây số. Có lẽ mấy sợi dây cột khạp bị lỏng, tôi thẫn thờ dắt chiếc xe chậm chậm tiến đến mái hiên của căn nhà trước mặt. Từ trong nhà có bóng người chạy ra, rồi tiếng hỏi: 

- Ủa mầy nữa hả Hai? 

Tôi nhận ra người đó là bạn mình. Không trả lời, tôi dựng chiếc xe đạp, tay quấn lại sợi dây cột khạp đã bị rời ra.

Anh bạn tôi ngó vào nhà, nói lớn: 

 - Em ơi, đem cây chổi và đồ hốt rác ra cho anh. 

Có tiếng trả lời của người phụ nữ từ trong nhà. Một lát sau, một cô gái hiện ra với cây chổi và đồ hốt rác. Cô ấy hỏi: 

 - Gì vậy anh? Ủa anh Hai! Sao kỳ quá vậy. Anh có sao không?

Bạn tôi giục:  

- Em đứng đó làm gì, phụ anh một tay hốt những mảnh bể đi. Nó còn tinh thần đâu nữa mà trả lời. Điệu nầy chắc hết vốn quá.

Tôi chợt sực tỉnh, bước vội lại hốt những miểng khạp cùng hai vợ chồng người bạn. Bạn tôi sẵn trớn nói tiếp:

-Tao đã nói với mầy rồi, chưa quen chở thồ nặng, vốn vay mượn không bao nhiêu lại vô cái nghề chở lu khạp. Trước sau gì mầy cũng từ bị thương cho đến chết vì hết vốn… À mà nghĩ cũng lạ, hết chổ đổ bể sao mà mầy cứ dè ngay nhà tao mà bị. Ba lần rồi phải không? 

Tôi mỉm cười không trả lời câu hỏi của bạn, nói hai tiếng cám ơn rồi trở lại chiếc xe của mình.  

Đêm nay gió lớn, mưa càng lúc càng nhiều hơn. Tôi bật vội dậy, quấn chặt tấm nylon, co rút người nép sát vào chân tường của mái hiên nhà. Dưới ánh đèn vàng vọt giữa đêm, trước mắt tôi là màn mưa dầy đặc, sấm nổ liên hồi. Lạnh quá, tôi thò tay vào trong túi áo, lấy bao thuốc lá đen còn sót một điếu bỏ lên miệng, bật lửa đốt thuốc. Rít mạnh điếu thuốc, tôi suy nghĩ mông lung… Hôm nay là đúng một tuần tôi được trả về sau 6 năm tập trung học tập cải tạo. Nhớ lại ngày tôi về, gặp lại những người thân trong gia đình trong thoáng ngỡ ngàng. Không tiền, không việc làm, không chổ trú thân và cả một tương lai u ám trước mắt. Vài ngày đầu, tôi sống tạm trong nhà của người Dì mà Mẹ tôi tá túc. Ban ngày lang thang đi kiếm việc làm nhưng không ai mướn vì mang lý lịch “Tù Cải Tạo.” Ban đêm lấy cớ nhà chật, tôi ra ngoài hàng hiên nhà bên cạnh ngủ cho mát. Đêm nào cũng thế, mắt thì nhắm nhưng đầu óc cứ hoang mang: “Không biết ngày mai đời mình sẽ ra sao?”
 
Có một lần đi từ Bình Dương về Lái Thiêu bằng xe đạp, tôi ghé lại Búng thăm một vài người bạn cũ. Khi qua ngang trường xưa, lòng tôi dấy lên nỗi ngậm ngùi nhìn lại chiếc cổng trường, nơi chất chứa bao kỷ niệm của một thời học trò.
 
Tôi về ghé lại thăm trường cũ                                                   
Tìm chút dư hương tuổi học trò 
Lãng vãng quanh đây hình bóng cũ
Thì thầm to nhỏ, vọng trong mơ
Gởi ai một chút lời thăm hỏi 
Ngày ấy đâu rồi, xa vắng xa
 

Một dịp tình cờ khác ngang qua phố Búng, tôi ghé lại thăm gia đình bạn V.T.B. và Thầy T.T.M. Thăm bạn và Thầy để thấy nỗi buồn càng sâu sắc vì hoàn cảnh ai cũng thê thảm. Đứng trước chợ Búng, phía bên kia đường trước đây là quán cơm xã hội, giờ không còn nữa. Tôi nhớ phía bên phải của quán cơm là dãy nhà có quán bánh bèo bì Ngọc Hương, kế bên là tiệm nước của người Hoa. Tất cả không còn dấu tích xưa. Nhưng may quá, cây cột đèn bên lề đường vẫn còn đó. Tôi ngậm ngùi, nó còn đó vì không biết đi, chứ nếu nó biết đi có lẽ nó cũng đã biến mất. Lúc xưa, cây cột đèn này là nhân chứng cho những lần tôi đứng chờ xe đò Đồng Hiệp từ Bình Dương về Sài Gòn. Xe thường dừng lại trạm Búng để đón khách, đa số là học trò từ hai trường NLS và Trịnh Hoài Đức. Thường thì đám con gái của trường nữ Trung Học Trịnh Hoài Đức hay đứng gần cột đèn lao xao tán dóc, nói lén Thầy Cô. Thỉnh thoảng, mấy cô lại bàn về những lá thư tình của ai đó rồi chọc ghẹo lẫn nhau. Riêng tôi, thời gian chờ xe là lúc tôi thực hành, kiểm nghiệm lại những bài giảng của Thầy Trần Nhật Tân về môn Tâm Lý Học, hay quyển sách Phân Tâm Học mà tôi đã đọc qua. Một hôm, tôi đang thả hồn bâng quơ trong lúc chờ xe đến, bỗng một tiếng nói cất lên:

- Ê tụi bây có để ý thấy thằng cha thầy chùa nầy đứng đây mỗi ngày không?

Nhìn chung quanh, chỉ thấy có mình tôi mặc áo nâu, tôi biết mình đang bị đám con gái “điểm danh”. Một cô khác trả lời:

 - Không phải đâu. Thằng chả là dân Nông Lâm Súc hàng xóm kế bên tụi mình mà.

Tôi giả bộ đánh rơi vật gì đó ở phía sau để quay lại tìm, rồi liếc xéo về nơi bọn con gái đang đứng. Tôi thoáng thấy một đôi mắt nai ngơ ngác nhìn về phía tôi, cảm giác như có một luồng điện nào đó chạy nhanh qua người làm tôi run rẩy. Và đó là giây phút đầu của một cuộc gặp gỡ đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm sau này.
 
Sau khi ra tù vài tháng, tôi đã thuần nghề đi buôn. Có những chuyến đi dài hạn như thể ngày đi thì có ngày về thì không. Trên những tuyến đường thiên lý đó, “Bình Dương - Long Thành - Đất Đỏ - Bà Rịa - Vũng Tàu” hoặc “Bình Dương - Trảng Bàng - Củ Chi - Tây Ninh - Long An - Hậu Nghĩa”, tôi đã quen cong người trên chiếc xe đạp thồ nhiều cái lu mái vú màu vàng, bên ngoài có in hình những con rồng, bên trong tôi nhét thêm những cái khạp nhỏ: 
 
“Ra đi em có dặn rằng
Nếu chưa bán hết thì chưa trở về”
 
Lúc đó, đi buôn từ Bình Dương về Sài Gòn là chuyện dễ dàng và lý thú, vì nhờ những chuyến đi ấy tôi đã gặp lại được nhiều Thầy Cô, bạn bè của thời Áo Nâu thuở xưa. Gặp lại nhau, thôi thì chuyện buôn bán để qua một bên, cà phê, thuốc lá, một vài xị lai rai để nhắc lại cái thời đi học. Tôi có thể là thằng gian nan vất vả nhất, nhưng được vinh hạnh gặp lại khá nhiều bạn bè cùng trường Nông Lâm Súc, và nhất là được đối xử hết sức chân tình. Thế mới biết, dù thời thế đổi thay nhưng tình nghĩa Thầy Trò, bạn bè không hề thay đổi. Mảnh đời tôi dù chấp vá, từ làm quan xuống ngục tù, đến nghèo mạt te tua, tôi đã có và nhận được những tấm chân tình của bạn bè cũ. Cụ thể hơn, tôi đã được bạn Trần Văn Tánh (CT-K2), Chị Nguyễn Thị Thuyết (CN-K1) và Thầy Trần Nhật Tân tận tình giúp đỡ tôi trong những ngày tháng vất vả
 
Cám ơn tấm lòng của Thầy Cô và Đồng Môn. Tình nghĩa của đại gia đình NLSBD đã cho tôi chút hơi ấm còn sót lại.
 
Áo Nâu Xưa
Khung trời xứ Búng
Tháng 12, 2016