alt

Theo thời gian, bây giờ nhìn lại, tôi không nhớ đã học với Phước từ năm nào? Tôi chỉ nhớ hai đứa bắt đầu thân với nhau ở năm lớp 10 khi cùng chọn ban Công Thôn. Là lớp duy nhất ở trường không có nữ học sinh, vì toàn là nam sinh nên lớp nổi tiếng là phá và nghịch ngợm nhứt trường khi đó. Tôi cũng không hiểu tại sao đối với tất cả các bạn khác trong lớp, chúng tôi dùng danh xưng mày tao để kêu nhau, nhưng riêng với Lê Tấn Phước chúng tôi xưng hô Tui, Bồ với nhau, rất nhiều bạn học cùng lớp đã hỏi nhưng tôi không biết lý do tại sao? Cả lớp đều là bạn, nhưng nhóm chúng tôi gồm bốn đứa Sáng, Phước, Bình và Tân thân nhau nhứt, tôi và Phước cùng ở Bình Dương, Bình và Tân gia đình ở Sài Gòn, Tân đi về mỗi ngày, riêng Bình ở trọ tại Bình Dương. Chúng tôi cùng nhau học tập, dệt mộng cho tương lai. Nhưng, cái chữ “nhưng” đáng ghét, ngày 30 tháng 4 năm 75 đến đã thay đổi tất cả.

Đầu tháng 5 năm 75, sau khi trở lại trường trình diện và ghi danh thi Tú Tài 2 để tốt nghiệp phổ thông, tôi và Phước trên đường đạp xe trở về nhà, khi đi ngang qua văn phòng của ba tôi ở gần chùa Bà, thấy một số người mang băng đỏ có súng, đang khiêng đồ ra. Đưa xe đạp cho Phước giữ, tôi bước lại và hỏi họ đang làm gì? Họ trả lời “chủ nhà này, đã bỏ đi nước ngoài, nên chúng tôi tịch thu tài sản”, tôi đưa ra bản sao “Giấy Trình Diện” tại nhiệm sở của ba tôi ở Sài Gòn, chứng minh ông không bỏ đi nước ngoài và một tờ chính sách 5 điều 7 điểm của nhà cầm quyền mới được cắt ra từ báo SGGP, trong đó đại ý chủ trương “hoà hợp, hòa giải dân tộc” và tài sản những người còn ở lại sẽ được tôn trọng. Nhưng lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Lần đầu tiên trong đời, Phước nhìn thấy tôi bị còng, dắt bộ về văn phòng của thị xã Phú Cường cách đó không xa. Chỉ 3 tuần sau, khoảng cuối tháng 5 tôi trở thành người không nhà. Ngôi nhà nơi tôi sống và lớn lên từ năm 68 cũng bị họ “trưng dụng”, cả gia đình gồm 12 người dọn về Sài Gòn ở trong căn chung cư 30 thước vuông của chị Hai tôi mua vài năm trước, khi chị mới lập gia đình.

Tôi không theo gia đình về Sài Gòn. Dì Út, má Phước, khuyên tôi về nhà dì ở, để tiện cho việc chuẩn bị thi tú tài. Sau khi thi xong, mặc dầu đậu, nhưng biết với lý lịch mình không thể xin vào đại học. Nhìn bản khai lý lịch 3 đời, tôi chỉ biết xé bỏ và bước ra khỏi trường. Phước theo học khóa sư phạm cấp tốc và trở thành thầy giáo tiểu học.

Đầu năm 76 tôi trở về Sài Gòn ở nhà chị tôi trong chung cư, khi đó ba tôi đã bị tập trung cải tạo, má và các anh chị em khác đã dọn về Long Khánh làm rẫy, má muốn tôi ở lại Sài Gòn với chị hai và cô em kế, căn chung cư bây giờ chỉ còn lại 3 chị em. Chị Hai tôi đang trông chờ tin tức của chồng đang trở về VN trên chiếc “Việt Nam Thương Tín" từ đảo Guam, sau này bị giam giữ ở Tuy Hoà trước khi bị chuyển ra Bắc. Thời gian anh bị giam ở Tuy Hoà, đôi khi buồn, tôi đàn và hát nho nhỏ bài “Chiều Qua Tuy Hoà” là chị Hai lại khóc, nhưng thỉnh thoảng chị lại bảo tôi đàn và hát bài đó.

Mỗi tuần, chiều thứ sáu, sau khi dạy học xong, Phước đạp xe đạp mà chúng tôi gọi là “ngựa sắt” từ Bình Dương về Sài Gòn thăm tôi, chiều chủ nhật lại đạp xe về lại. Trước năm 75, tôi chỉ biết Bình Dương và các tỉnh lân cận, nhưng trong năm 76, hầu như tất cả các tỉnh ở miền tây, tôi đều đi qua, nhứt là các khu vực gần biên giới Cao Miên.

Dì Út, má Phước lo sợ tôi sẽ gặp nguy hiểm, và khi đó, tôi đang trong hạn tuổi nghĩa vụ, dì giới thiệu tôi với người anh thứ bảy của dì, đang làm trưởng phòng an ninh cho một công ty Hóa Chất và Vật Liệu Điện ở Sài Gòn. Với lý lịch giả, cha về hưu năm 72, đang ở kinh tế mới Long Khánh, tôi trở thành công nhân. Sau vài tháng đi “thu mua" hoá chất và vật liệu điện, họ đưa tôi về làm phụ kho ở một kho hàng trong Chợ Lớn. Tại nơi này, tôi đã quen được anh Văn Quang Nhật, cựu học sinh Taberd, kỹ sư hóa đang làm phẩm định hoá chất cho công ty. Anh được kết nạp vào đoàn viên cộng sản năm 72, hoạt động nội thành trong thời gian còn là sinh viên. Sau một thời gian quen biết và hiểu nhau, anh tâm sự: “Nỗi khắc khoải của em không bằng anh, lý tưởng của anh đã bị lợi dụng, anh em mình chỉ có một con đường là ra đi”.

Trong kho hóa chất nơi tôi đang làm, có 8 thùng bột tẩy đường, rất hiếm và có giá. Với số hàng này, nếu bán được ra ngoài sẽ đủ chi phí cho chúng tôi tổ chức chuyến đi với tất cả bạn bè mà không cần phải tìm thêm khách. Nhưng, lại chữ “nhưng” oan nghiệt, có ai đó đã dùng hoá đơn giả mua mất 2 thùng, khiến thủ kho và tôi đã bị công an thành phố điều tra một thời gian. Sự việc này đã làm cho kế hoạch của chúng tôi bị chậm lại, với 6 thùng bột tẩy đường còn lại, không đủ cho chi phí tổ chức, chúng tôi sẽ phải tìm thêm một số khách.

Trời đã phụ chúng tôi một lần nữa, cuộc đánh tư sản ở Chợ Lớn đã phá vỡ kế hoạch của chúng tôi hoàn toàn, tất cả những đường ra vào Chợ Lớn đều bị đóng, hàng hóa trên xe phải có giấy tờ xuất xứ. Không có cách gì hơn, chúng tôi phải tìm khách, người bỏ của, chúng tôi góp công. Anh Nhật, vốn quê ở Cà Mau nên việc tìm mua tàu không khó lắm. Thời gian này, song song với việc tìm thêm khách để có tiền lo chi phí, chúng tôi còn phải tìm tài công và thợ máy. May mắn, tìm được anh Tường, cựu sĩ quan hải quân, trước phục vụ giang đoàn BCF ở vùng 4, mới được thả về từ trại “tập trung cải tạo”. Anh giới thiệu thêm anh Tuấn, anh Chính, anh Khánh, tất cả đều mới được thả. Anh Khánh sĩ quan cơ khí, tốt nghiệp đại học Phú Thọ, người sau này đã chế ra bộ phận hãm thanh cho máy tàu.

Chi phí cao hơn dự trù lúc đầu rất nhiều, nên chúng tôi phải tìm thêm nhiều khách, vì vậy số bạn bè đi chung sẽ bị giảm đi, chúng tôi quyết định sẽ tổ chức thêm một chuyến nữa vào năm sau cho tất cả bạn bè, dùng số tiền thu được của khách trong chuyến này để lo cho cả hai chuyến. Một nhóm nhỏ sẽ đi trong chuyến này với khách gồm có tôi, Phước, anh Tuấn, anh Chính, anh Khánh và vài người nữa. Số bạn bè và gia đình còn lại khoảng 60 người sẽ ở lại đi chuyến sau.

Trong buổi họp mặt sau cùng để tổng kết số khách và bàn kế hoạch đưa người từ xa cảng miền tây xuống Bến Tre, rồi từ tàu nhỏ ra tàu lớn đang đậu ở sông Cái để ra đi từ cửa Cổ Chiên. Chúng tôi biết được, một người bạn trong nhóm tổ chức đã nhận thêm 3 người khách cho riêng mình, việc này làm kế hoạch đưa người từ tàu nhỏ ra tàu lớn bị ảnh hưởng. Trong lúc bạn bè lớn tiếng với nhau, tôi khi đó, chỉ mới 21 tuổi, với nhiệt tính của tuổi trẻ, muốn làm dịu lại sự căng thẳng giữa bạn bè, nên lên tiếng “sẽ nói Phước và Dũng ở lại đi chuyến sau”. Hôm đó không có Phước, vì trong thời gian này, Phước vẫn ở Bình Dương và đang dạy học nên không tham gia vào việc tổ chức.

Nhiệm vụ của tôi trong ngày đi, là đưa 38 người gồm gia đình các anh Tuấn, Chính, Khánh và một số khách từ XCMT xuống Bến Tre để ra tàu lớn. Đã hẹn với Phước và Dũng từ nhiều ngày trước, giấy đi đường giả cho hai người cũng đã lo xong, nên khi gặp hai bạn trong buổi sáng ở XCMT, tôi kể lại sự việc xảy ra trong buổi họp hai đêm trước và muốn một người ở lại đi chuyến sau, nhưng Phước nói “nếu được, thì đi cả hai, nếu không hai người sẽ ở lại để đi chuyến sau”. Không ngờ đó là lần sau cùng tôi gặp Phước. Chúng tôi bắt tay nhau, hẹn sẽ gặp lại ở một nước thứ ba.

Chuyến chúng tôi ra đi, cũng có một số trở ngại nhỏ về thời tiết, và vì là tàu đò đi sông nên khi ra biển phải nương theo sóng mà đi. Sau 7 đêm 6 ngày, 17 tháng 7 năm 1978, tàu chúng tôi gồm 71 người tới bến Mã Lai, và là nhóm sau cùng được đưa vào Paulo Besa. Tháng 12 cùng năm, chúng tôi tới “miệt dưới” Australia, định cư tới hôm nay.

Trong thời gian này, anh Nhật, Phước cùng một số các bạn khác đang sắp xếp cho chuyến đi, chúng tôi vẫn liên lạc bằng thơ tín và điện tín, chứ chưa có điện thoại và email như bây giờ. Người lái tàu (anh Tường) và tiền đã có, và với kinh nghiệm trong việc tổ chức chuyến đi trước, mọi việc dường như rất tốt. Tôi nhờ anh Nhật và Phước, nếu có thể, đưa hai thằng em đã tới tuổi nghĩa vụ cùng đi, các anh hứa sẽ lo. Cuối tháng 2 năm 79, tôi nhận được điện tín từ VN chỉ vỏn vẹn mấy chữ “anh Nhật, anh Phước đã đi, tụi em bị kẹt lại”. Nghe tin, tôi biết phải có lý do gì đó chuyện này mới xảy ra. Tới đầu tháng 4, tức là hơn một tháng sau, tôi nhận được một lá thơ gởi từ Thụy Sĩ của chị Thủy, người từng đi chung chuyến vượt biển năm trước, trong thơ là danh tánh của 67 người gồm bạn bè và gia đình của họ trên chuyến tàu đã bị đắm chìm sớm ngày 27 tháng 2 năm 1979, trong đó Phước và anh Nhật.

Anh Hồng, anh của chị Thủy và cũng là người đã lái chiếc tàu nhỏ đưa 39 người chúng tôi ra tàu lớn tháng 7 năm 78, là người duy nhất còn sống sót trong đêm 27 tháng 2 năm 79, vợ anh đang mang bầu cùng với 2 đứa con nhỏ cũng đã chết theo tàu. Anh cho biết, chuyến đi dự định đầu tháng 3, nhưng bị lộ, nên phải khởi hành một tuần trước ngày dự định, khiến một số ít người bị kẹt lại. Anh viết, chuyến ra đi cũng từ cửa Cổ Chiên, sau khi ra khỏi cửa biển được 3 hay 4 tiếng, biển trở nên rất động, sóng cao hơn 3 thước. Biết không thể nào tiếp tục được, các anh quyết định quay trở lại, nhưng bất chợt, theo như anh kể, một ngọn sóng lớn như cái nhà đập xuống tàu, khiến tàu bị bể ra và chìm liền. Với phản ứng của người từng nhiều năm đi biển, anh ôm được một tấm ván tàu bị bể và ngất đi, khi tỉnh dậy, trời đã sáng, chung quanh không còn ai. Đến chiều, một chiếc tàu đánh cá quốc doanh trên đường trở lại bến đi ngang, cứu và đưa anh trở lại Bến Tre. Anh bị giam giữ một thời gian, gia đình lo lót cho công an nên anh được thả ra sau đó.

Nếu không vì nông nổi của tuổi trẻ, Phước và Dũng đã cùng đi với tôi năm 78, Lê Tấn Phước đã không chết. Thêm 1 hay 2 người cũng không thể làm cho chiếc tàu nhỏ bị chìm. Tôi không chính tay làm cho bạn tôi chết, nhưng quyết định nông nổi của tôi đã khiến dì Út, má Phước, mất đi một người con trưởng trong gia đình và tôi mất đi một người bạn thân mà tôi biết là trong quãng đời còn lại này, tôi sẽ không thể nào có được một người bạn như Phước. Sự ân hận này sẽ theo tôi tới cuối đời. Mong gặp lại bạn một ngày không xa, Phước ơi.

Trương Sáng