Họ chưa là gì của nhau. Chàng, sĩ quan Địa Phương Quân thuộc tiểu khu Bình Dương; còn nàng, nữ sinh trung học NLS An Mỹ. Cả hai sẽ không có duyên gì, nếu không có vụ đơn vị chàng đóng quân gần nhà nàng và trong một buổi chiều êm ả, chàng lang thang đi tìm chỗ ngủ qua đêm cho trung đội của chàng.
 
Nàng, tuy gọi chàng bằng chú nhưng vẫn xưng em; còn chàng tuy nhận mình làm chú nhưng không gọi nàng bằng cháu. Tuy mới gặp nhau lần đầu, xa lạ nhưng họ thân tình với nhau như từ lâu lắm. Có lẽ do hai người cùng chung xứ Thủ và cùng một gốc là dân NLS áo nâu. Cái này chỉ có chàng mới biết, nhưng chưa tiện nói ra với nàng.
 
Nàng, cũng như bao cô gái đoan trang thời xa xưa ấy, đi học về là quẳng sách cặp, lao xuống bếp phụ má nấu cơm, xắt chuối, trộn cám cho heo ăn. Còn chàng sau ngưỡng cửa trung học NLS Bình Dương, nếu không tiếp tục đại học sẽ vào quân trường Thủ Đức, cho dù chàng muốn hay không. 
 
Sau chín tháng huấn luyện sẽ ra trường thành anh Chuẩn-Úy, rồi một năm sau sẽ lên Thiếu-Úy nắm chức Trung Đội Trưởng hay xui xẻo hơn nữa, sẽ nhảy lên bàn thờ ngồi chơi, xơi chuối với ông bà, ông vải. Bởi thế vào thời ấy, bọn thanh niên trai trẻ như chàng đều cùng chung một tâm trạng, vừa bi-hùng vừa kiêu hãnh, điển hình như:
 
“Đời lính chiến công danh đành nghẹn lối
Tương lai gì ngoài thép súng với ba-lô
Sự nghiệp kia đã có một nấm mồ
Bao phủ bởi cờ vàng ba sọc đỏ.”
 
Tuy cuộc chiến đang đến hồi quyết liệt… Quân ta thiếu thốn đủ mọi thứ, từ nhân sự cho đến phương tiện chiến đấu. Mỹ rút, đồng minh Đại Hàn, Úc, Thái Lan tháo lui, không được yểm trợ, tiếp tế đạn dược và bổ sung… quân số, đầy đủ như trước nữa. Nhưng phe ta ai cũng một lòng vững tin, tự an ủi vấn an nhau, rằng sắp có hòa-bình, sắp có hòa hợp, hòa giải… dân tộc! Vì lẽ có ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên chứng giám. Các cường quốc họp bàn ba phe, bảy nhóm, bàn vuông, bàn tròn, rồi đã có giải pháp cho miền Nam Việt Nam sẽ thành lập chính phủ ba thành phần... vân vân và vân vân... Ôi thôi, bao nhiêu điều hứa hẹn, các anh hãy ráng chịu đựng thêm một thời gian nữa, rồi ra đất nước sẽ thanh bình lại, dầu gì cũng cùng là người Việt Nam, Nam–Bắc một nhà, lúc đó chúng ta sẽ xây dựng lại quê hương…
 
Nhưng!!!
 
Khi hàng trăm khẩu đại pháo dấu kín trong núi rừng Tây nguyên đồng loạt thi nhau nhả đạn vào thị trấn Buôn-Mê-Thuộc. Và khi Quân-Khu-Hai từ hai tỉnh Pleiku, Kontum phải di tản chiến thuật về vùng duyên hải hầu tái phối trí để dễ bề phản công. Rồi đến Quân Khu Một được lệnh bỏ Quảng Trị, Huế và Đà-Nẵng rút quân về phía nam để tử thủ. Rồi Phan Rang, Phan-Rí cũng mất, cuối cùng còn lại tiểu-khu Long-Khánh, cửa ngõ sát Thủ Đô Sài-Gòn. Cứ tưởng Trung-Đội của chàng sẽ được gấp rút đưa lên tăng viện, khống chế con đường tiến quân của địch như ngày xưa trong những trận bóng đá giao hữu giữa những trường trung học với nhau. Khi bên đối phương dẫn banh thọc sâu vào vùng cấm địa, tiến sát trước khung thành ta, trong khi thủ môn Lâm-Minh-Châu còn đang lúng túng chưa đoán biết đối phương sẽ ‘Sút” vào góc nào? Kiệt và Tín từ hàng tiền đạo chưa chạy về kịp tiếp ứng. Chàng như Lê-Lai xông ra liều mình cứu Chúa, dùng đầu mình đội cú banh ngàn cân của đối phương, khiến banh bay bổng qua khỏi khung thành trong đường tơ kẽ tóc, trong tiếng hô vang dội của các bạn cùng trường, cứu đội banh nhà có đủ thời gian sắp xếp chuẩn bị chống đỡ cho màn phạt góc của đối phương.
 
Nhưng tình thế chiến trận ngày ấy không như trận banh năm nào nữa! Lệnh buông súng đầu hàng đã được ‘Tông-Tông’. Vị Tổng Tư lệnh Tối Cao Quân Lực ban ra vào sáng ngày ba mươi tháng tư hôm đó. Trong cơn hoảng loạn, tơi tả, đương nhiên họ không thể nào nghĩ đến nhau được. Họ còn có cha mẹ, anh em phải về lo toan cho tình huống mới. Nhưng sau đó, khi mọi biến động lắng chìm xuống trong cuộc bể dâu đổi đời. Những lúc một mình cô đơn và cơ cực, họ vẫn nghĩ tới nhau với bao nhiêu điều hối tiếc. Giá như ngày xưa đừng vì bận công vụ trách nhiệm, chàng đã dành nhiều thì giờ cho nàng, sẽ mời nàng đi ăn chè đậu đỏ bánh lọt, sẽ rủ nàng đi xem chiếu bóng, xi-nê hay dạo chơi phố quận. Giá ngày đó Chi-Khu cho phép chàng đóng quân ở xã nàng lâu hơn, chàng sẽ kèm bài vở cho nàng mỗi tối và biết đâu chàng sẽ gọi má nàng bằng má Sáu thân thương như những người lính của chàng và má Sáu sẽ tin tưởng, coi chàng như con…rể tương lai. Nghĩ đến đây, chàng cảm thấy sướng ran cả người. Còn nàng, giá mà lúc trước đừng kiêu xa, khép kín, bớt chút thì giờ rửa chén nấu cơm để gần gũi với chàng hơn nữa, thì nay đang cận kề chàng, chứ đâu biệt tăm, biệt tích như thế này! Ôi sao tình nghe mùi mẫn và cải lương quá đi. Nhưng nếu không có mùi mẫn và cải lương… như thế. Làm sao hơn bốn mươi năm sau họ có thể gặp lại nhau được. Mà họ còn hẹn gặp nhau nơi phố Búng, khi năm xưa chàng còn là cậu học viên NLS Bình Dương trẻ tuổi, điển trai…
 
Họ ngồi bên nhau, trong một quán ăn nhỏ bên cạnh dòng sông xưa cũ, êm ái, lặng lẽ, ngắn nhìn hàng dừa phía xa xa bên kia sông. Trên đầu họ, nắng đã lên cao, và bầu trời vẫn trong, xanh như ngày nào khi hai người còn trẻ. Người phụ nữ tuổi trạc ngoài ngũ tuần, tuy thời gian đã lấy đi đôi chút thanh xuân hương sắc, còn chàng đã quá sáu mươi. Một điều đáng mừng, chàng không phải chống gậy, chàng còn đủ sức nắm lấy tay nàng dắt nàng đi loanh quanh trong khu chợ Búng mới. Và sau đó chàng còn ‘dụ khị’ được nàng tản bộ với chàng từ chợ Búng về thăm khu nông trại và ngôi trường cũ mà nay đã hoàn toàn đổi mới không còn tí gì về dấu tích xưa! Chàng kể cho nàng nghe những câu chuyện nơi xứ người, những nơi chàng đã đi qua. Những phố phường tráng lệ, nhưng đất và người là của ai chứ không phải của mình. Nó sẽ không bằng ngôi chợ Búng ngày xưa chàng đã có thời trọ học. Hương vị của những món ăn trong những hàng quán sang trọng vẫn không ngon bằng thức ăn ở Quán Cơm Xã Hội mà chàng đã từng lót dạ lúc trưa, giữa hai buổi học, những buổi chiều tan trường. Các tà áo dài nâu, dài trắng bay bay phất phới như những cánh chim dập dìu trong gió nhẹ, mà trong suốt quãng đời sau ngày chia tay ấy, chàng chẳng bao giờ nhìn ngắm lại được. Những cây cầu thật kiên cố, vững chắc dài hun hút với ba, bốn làn xe cộ ngược xuôi, nhộn nhịp vẫn không sao bằng cây cầu khỉ ngày xưa trong ký ức của chàng. Rồi cuối cùng chàng thỏ thẻ bên tai nàng rằng: “Anh yêu em quá xá! ” Mà đáng lẽ ra, chàng phải nói câu đó hơn bốn mươi năm trước khi lần đầu tiên chàng tạt ngang nhà nàng, xin má nàng gáo nước mưa uống cho đỡ khát, và đã thấy nàng thật đẹp kiêu sa, tha thướt trong tà áo nâu lúc đi học về  “mặc áo dài, tay cầm cặp và đầu đội nón lá.” Đó là những gì chàng còn nhớ được về nàng trong những đêm dài khốn khổ... trong trại cải tạo rừng sâu.
 
Còn nàng,  câu “Anh yêu em quá xá! ” Nàng đã nghe qua biết bao nhiêu lần trong đời nàng, từ ngày trung đội chàng đột ngột được lịnh rút quân đêm đó, để rồi sáng hôm sau nàng thẩn thờ, nhớ nhung cả tuần lễ dài. Nhưng tất cả lời ‘ong-bướm' đó, vẫn không làm nàng xôn xao, rạo rực như hôm nay. Nó như bản tình ca ngọt ngào, êm ái nhất, nàng đang được nghe lần đầu, dẫu muộn màng nhưng vẫn làm lòng nàng rung cảm. Ừ nhỉ, giả sử, hơn bốn mươi năm trước nàng được nghe chàng nói câu đó thì sao nhỉ? Chắc nàng sẽ bẽn lẽn, e-thẹn và nói: “Chú à! Kỳ ghê hà! Em còn nhỏ xíu, ngây thơ chưa biết yêu ai hết!”
 
Còn chàng thì sao? Thì hai người sẽ lấy nhau, họ sẽ có những đứa con ngoan, hiếu thảo. Nàng sẽ một mình vừa nuôi con, vừa nuôi chồng khi chàng  đi tù cải tạo. Sau đó gia đình họ sẽ sang Mỹ theo diện HO. Những năm tháng đầu tạo dựng hẳn phải  khó khăn.  Có thể chàng đi cắt cỏ, tỉa cây kiếm tiền, làm đẹp cho dân giàu thành phố nơi hai người đang cư ngụ. Có thể nàng sẽ phụ bếp nhà hàng Việt Nam, rửa chén, nhặt rau, quét dọn… Rồi chàng cố học hành thêm chút đỉnh để có thể vươn lên trong cuộc sống mới.  Và cứ thế, chồng đi, thì vợ về, ít khi họ có được ngồi bên nhau ‘hủ-hỉ’ngay cả những ngày nghỉ cuối tuần. Chàng phải lăn quay ra để ngủ cho lại sức, lấy đâu thì giờ ‘thủ thỉ’ bên nhau. Hai vợ chồng sẽ ra sức nuôi con cho khôn lớn, trưởng thành. Rồi con cái họ sẽ ăn học thành tài, có công ăn việc làm ở những thành phố khác. Chúng ra ở riêng và sẽ có gia đình mới. Căn nhà bây giờ chỉ còn lại hai người già cả mênh mông, trống vắng… Nghĩ đến đây chàng chợt “hoảng” hồn, bóp mạnh tay mình vào tay nàng khiến nàng phải giật mình ‘ngơ ngác’ chẳng hiểu chàng bị chuyện gì?!
 
Vậy thì, dẫu có mất hơn bốn mươi năm hay thêm cả nửa thế kỷ đi nữa (cộng lại = trăm năm) nhưng còn được một ngày hạnh phúc như buổi chiều hôm nay, ‘tung tăng’ trên lối mộng bên nàng, chàng vẫn không bao giờ tiếc rẻ. Còn gì sung sướng, hạnh phúc hơn khi chàng được “độc thân tại chỗ”  hay nói cho đúng hơn, “Ông được bà xã ông cho phép hôm nay, một mình, về thăm lại trường cũ” đó nghe.
 
Trần Đình Thảo (CT K3)
Xuân Bính Thân 2016.
 
Ghi Chú:
 
Viết ‘hùa’ theo câu truyện được cho là hư cấu “Hơi Ấm Mùa Xuân” của anh Trần Văn Hai.
Nếu như anh Hai-Râu có bị bà Xã tùng xẻo, đánh đập thương tật hay ngay cả mất mạng! Tôi,TĐT, không chịu mọi trách nhiệm, và chắn chắn rằng bài viết nầy hoàn toàn không liên can về vụ đó.
Chúc anh Hai những ngày vui chơi thả dàn nơi quê nhà. Và cũng xin chúc anh may mắn trong những ngày hồi cư. "Good luck man!"